Chương 1 TRUYỆN NGẮN GIẢ LỊCH SỬ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1986 1. Truyện ngắn giả lịch sử - khái niệm 1. Khái niệm truyện ngắn Truyện ngắn là một trong những thể loại năng động nhất, thường được các nhà văn lựa chọn để chuyển tải những góc nhìn về cuộc sống. Họ tìm ra những chất liệu hiện thực để từ đó đưa ra cái nhìn quan niệm về truyện ngắn tùy theo chỗ đứng và sự quan sát, tìm tòi của nhà nghiên cứu.
Vì thế, mà khái niệm truyện ngắn cũng được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Truyện ngắn vô cùng phong phú và đa dạng, nó ra đời hơi muộn và xuất hiện từ khi con người biết sáng tác văn chương. Truyện ngắn dựa vào hai tiêu chí chính là dung lượng và thi pháp. Về dung lượng, truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, chủ yếu được viết bằng văn xuôi.
Nghĩa là ngắn, thậm chí cực ngắn (truyện mini), nhân vật không nhiều, tình tiết và chi tiết đời sống cũng không nhiều. Về thi pháp, ngoài những yếu tố như cốt truyện, lối trần thuật, ngôn ngữ…, thì tình huống được xem là hạt nhân thể loại của truyện ngắn. Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn”, mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại. Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người.
Dù nhà văn có thể sáng tác truyện ngắn ở những dạng thức mới ít nhiều mang tính “phi cổ điển” và dù các nhà nghiên cứu có thể đưa ra thêm nhiều định nghĩa về truyện ngắn thì dường như đa số tác giả vẫn khó lòng vượt qua khỏi ý nghĩa truyện ngắn như là một “lát cắt” của hành động. “Lát cắt” ấy không chỉ là một phiến đoạn thông thường, mà có khả năng giúp người đọc hồi suy về quá khứ, đồng thời gợi mở các liên tưởng về tương lai. Với tư cách là một thể tài tự sự, truyện ngắn hiện đại ít nhiều mang những đặc tính của tư duy 11 tiểu thuyết. Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại.
Là “hình thức tự sự loại nhỏ”, truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội. Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian và thời gian hạn chế. Biến cố của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn.
Để thực hiện nổi bật tư tưởng chủ đề khắc họa nét tính cách nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén. Do đó, trong khuôn khổ ngắn gọn những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn. Với mục đích khắc họa một hiện tượng, một đặc tính quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người, truyện thường ít nhân vật, ít sự kiện chồng chéo. Nhân vật ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn.
Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian, không gian. Chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con người. Kết cấu thường không nhiều tầng mà thường được dựng theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng. Lời kể và cách kể là những điều được những người viết truyện ngắn đặc biệt chú ý khai thác và xử lý, nhằm đạt hiệu quả mong muốn.
Tính quy định về dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn tập trung vào vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện trong một không gian và thời gian nhất định. Nhân vật truyện ngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một trạng thái tâm thế con người thời đại. Chi tiết đóng vai trò quan trọng, nó có tính chất biểu tượng. Khái niệm truyện ngắn giả lịch sử Trong ý nghĩa khái quát, lịch sử là tiến trình phát triển của tự nhiên và 12 xã hội.
Các khoa học xã hội (cũng được gọi là các khoa học lịch sử) đều nghiên cứu quá khứ loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó. Vì thế, các trường phái triết học văn hóa thế kỉ XX, “lịch sử” (chữ Anh: History, chữ Pháp: Histoire) bao hàm đó là phương thức tồn tại trong thời gian của con người và loài người. Song, cái nhìn đó còn là sự trần thuật về quá khứ như một hình thái văn hóa, một bộ môn chuyên biệt. Ở Việt Nam, truyện ngắn viết về đề tài lịch sử sau 1986 có thể chia thành hai xu hướng: xu hướng muốn tái hiện “chân thực” bức tranh lịch sử và xu hướng mượn lịch sử để suy tư về hiện tại, về “những khả năng có thể diễn ra” của lịch sử.
Xu hướng thứ nhất thường lấy chính danh nhân làm đối tượng phản ánh, lấy tiểu sử và sự nghiệp của họ làm cốt truyện và theo sát tính chính xác của các biến cố sự kiện lịch sử. Tất nhiên đã là truyện ngắn thì phải có hư cấu nhưng cái chính vẫn là lịch sử, cốt truyện sẽ không tô vẽ, hư cấu quá xa thực tế. Các nhà nghiên cứu phê bình và nhà văn cũng có cách nhìn mới đối truyện ngắn lịch sử. Về mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử với hư cấu lịch sử, giáo sư Phan Cự Đệ, trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các nhà viết tiểu thuyết lịch sử, vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai trò của hư cấu sáng tạo nghệ thuật [.
Nhà nghệ sĩ sẽ lấy quyền sáng tạo và hư cấu để bổ sung cho những chi tiết, những thời kỳ mà lịch sử không nói đến” (Phan Cư Đệ, 2003). Hoài Nam trong bài viết Bàn về tiểu thuyết lịch sử (Văn nghệ số 45 – 2008) cũng đã khẳng định: “Lịch sử sẽ không thực sự là lịch sử đối với con người hiện tại khi họ là người tham gia vào tiến trình tạo ra nó hoặc là người chứng kiến diễn biến của nó […]. Lịch sử đích thực phải là “lịch sử xa”, thứ lịch sử mà con người hiện tại được thừa hưởng (hoặc phải chịu đựng) như là một thắt buộc định mệnh của quá khứ trong khi họ hoàn toàn vô can với nó” (Hoài Nam, 2008). Khi nhắc tới khái niệm “lịch sử” người ta còn hiểu nó như một tính từ gắn với sự khách quan, chính xác.
Ngược lại, hư cấu “là vận dụng 13 trí tưởng tượng để sáng tạo nên những nhân vật, câu chuyện, những tác phẩm nhằm phản ánh cuộc sống và hiện thực với những mục đích nghệ thuật nhất định” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 1999). Những lí giải trên là cơ sở để chúng tôi đưa ra khái niệm về truyện ngắn lịch sử. “Truyện ngắn lịch sử” là truyện mà lấy nội dung lịch sử làm đề tài, lấy cảm hứng sáng tạo nghệ thuật để bộc lộ tư tưởng, quan điểm của tác giả. Trong tác phẩm, các tình tiết, sự kiện, nhân vật, không gian, thời gian phải được gắn kết một cách cụ thể hoặc lấy bối cảnh của một thời kì lịch sử đã qua với “độ lùi” nhất định.
Lịch sử là chất xúc tác, tác động đến toàn bộ mạch chảy của truyện hoặc cũng có thể lịch sử chỉ được sử dụng như bức bình phong để tác giả xây dựng cốt truyện mới, hay nói cách khác nó là khí cụ để vẽ lên những điểm tương đồng của quá khứ và hiện tại và làm sáng tỏ hiện tại. Bên cạnh thể loại “truyện ngắn lịch sử”, “truyện ngắn giả lịch sử” có sự khác biệt rất rõ. Trong truyện ngắn lịch sử, các nhà văn lấy cảm hứng chân thật sự kiện lịch sử mà tô điểm, làm cho nó có sức sống hơn, khoác cho nó thêm màu áo mới. Ở truyện ngắn giả lịch sử, các truyện ngắn mà nhân vật và sự kiện lịch sử dường như chỉ làm cái cớ để tác giả tưởng tượng, hư cấu một cốt truyện hoàn toàn khác.
Thay vì mô tả hiện thực sự thật, tái hiện lịch sử, các tác giả lại xây dựng một hiện thực nghệ thuật giả định để bổ sung một cách hình dung mới về nhân vật và diện mạo lịch sử. Đôi lúc tác giả đã trải qua hư cấu, sáng tạo và cải biến hoàn toàn sự kiện lịch sử. Mặc dù tên nhân vật, bối cảnh, sự kiện, chi tiết vẫn giữ nguyên như trong chính sử, nhưng cốt truyện lại được thay đổi, các tình tiết có sự thêm thắt và sáng tạo. Nghĩa là “Lịch sử chỉ là cái đinh để tôi treo lên đó trí tưởng tượng của mình” như cách nói của Alexandre Dumas.
“Nhà nghệ sĩ sử dụng quyền sáng tạo và hư cấu để bổ sung cho những chi tiết, những thời kì mà lịch sử không nói đến […] dựa trên vốn sống và những tài liệu lịch sử, nhà nghệ sĩ phải tưởng tượng và bổ sung cho vô số những “điểm trắng”. “Một tác phẩm viết về đề tài lịch sử được công nhận là một tác phẩm 14 nghệ thuật hay không, tùy thuộc vào mức độ hư cấu và khả năng tưởng tượng của nhà văn trên cơ sở những sự kiện và nhân vật lịch sử theo đúng đặc trưng và nguyên tắc thể loại” (Bùi Văn Lợi, 1999). Trong bài viết Soi ánh sáng vào dĩ vãng, Lê Vũ Trường Giang, cũng nhận xét rất rõ về truyện ngắn giả lịch sử. Chân lý, qua lăng kính của lịch sử, được chiêm nghiệm, phục dựng để ứng phó với cuộc sống thường nhật hay những biến thiên của thời đại.
Nhà văn có khả năng lí giải lịch sử, dung truyền lịch sử tạo nên những đường rây dành riêng cho văn chương. So với chính sử, hàng nghìn nhân vật, sự kiện, thời kì, bí mật, biến cố lịch sử đã được tạo dựng từ những hư cấu văn học và tất cả đã sống dậy từ những trang viết đầy sáng tạo của các thế hệ nhà văn (Lê Vũ Trường Giang, 2017). Dù mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng nhìn chung, trong truyện ngắn giả lịch sử, hiện thực lịch sử chỉ là cái cớ để các nhà văn sáng tạo nên những cốt truyện mới, những hoàn cảnh mới và những tính cách nhân vật kiểu mới.