CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT CỦA PHÙNG QUÁN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp 1.1 Cuộc đời Phùng Quán (1932 - 1995), sinh ra tại quê xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là mảnh đất nổi tiếng với vẻ đẹp thanh bình, cổ kính, là chiếc nôi của những câu hát Nam Ai, Nam Bằng, những câu hò ví dặm đã nuôi dưỡng tâm hồn và tài năng văn chương của nhà văn. Phùng Quán sinh ra trong một gia đình nghèo. Cha là Phùng Văn Nguyên, khi học trường Quốc học Huế đã tham gia các phong trào các phong trào truy điệu Phan Châu Trinh, ân xá Phan Bội Châu nên bị đuổi học, bắt giam, bị tra tấn và chết trong tù.
Mẹ là Tôn Nữ Thị Tứ, một người phụ nữ tài sắc, thuộc nhiều truyện và các sự tích anh hùng, nghĩa hiệp trong các tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và thường kể cho Phùng Quán nghe. Cha mất sớm, từ nhỏ ông đã đi lang thang nhiều nơi và làm nhiều việc để mưu sinh. Truyền thống gia đình và hiện thực cuộc sống đã giúp nhà văn sớm có thêm những chiêm nghiệm về sự đắng cay, khổ cực của cuộc đời và sớm trưởng thành hơn những đứa trẻ cùng tuổi khác. Năm mười ba tuổi, Phùng Quán trốn nhà tham gia kháng chiến chống Pháp, trở thành chiến sĩ nhỏ của Trung đoàn Trần Cao Vân.
Hành động quyết liệt đó của một đứa trẻ cho thấy Phùng Quán đã tự nguyện gắn bó số phận cá nhân cùng với vận mệnh dân tộc. Những ngày tháng anh hùng với bao chuyện vui, buồn, bi tráng về thời kì sục sôi ấy, sau này đã được nhà văn kể lại trong cuốn tiểu thuyết tâm huyết Tuổi thơ dữ dội của mình. Phùng Quán thường tâm sự với bạn bè rằng cuộc đời mình tưởng như không có tuổi thơ và không có tuổi thanh niên. Tuổi thơ của tác giả là một tuổi thơ nghiệt ngã và tuổi thanh niên nghiệt ngã hơn.
Bảy, tám tuổi đã phải chăn trâu, cắt cỏ kiếm cơm, mười ba tuổi đã cầm súng ra trận. Ở cái tuổi ngây ngô, hồn nhiên nhất đáng lẽ chỉ biết chơi bi, đánh đáo, hái trộm quả nhà chùa,…thì 7 Phùng Quán đã phải chứng kiến cảnh đầu rơi máu chảy, phải cướp súng giặc, vượt ngục,…. Sau đó, Phùng Quán tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn văn công Liên khu IV. Đầu năm 1954, ông làm việc tại cơ quan sinh hoạt văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ quân đội).
Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1955. Nhưng không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Khi phong trào này chấm dứt dưới tác động của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông bị kỉ luật phải đi cải tạo ở nhiều nơi. Từ đó đến khi được nhìn nhận lại ở thời kì Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản hoặc ông phải tìm cách xuất bản tác phẩm của mình dưới bút danh khác.
Khoảng thời gian cay đắng sống trong hiểu lầm đó của nhà văn kéo dài gần ba mươi năm trong cảnh: “cá trộm, rượu chịu, văn chui”. Mãi đến khi tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội được công bố và nhận giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1988 thì ông mới được minh oan. Sinh ra trong thời kì chiến tranh, đất nước bị đô hộ, trưởng thành trong môi trường quân đội, Phùng Quán là người lính kiên cường, dũng cảm trên cả hai lĩnh vực quân sự và văn học. Ông là người có tấm lòng nhân hậu, độ lượng.
Vào một buổi chiều tháng Chạp lạnh buốt, ngày 22/1/1995 , căn bệnh hiểm nghèo đã mang ông đi khỏi cõi đời trần thế và trở về với đất mẹ. Năm 2007, Phùng Quán được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng như một lời cảm ơn và xin lỗi đến nhà văn.2 Sự nghiệp sáng tác Nhà văn Phùng Quán đã để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học Cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX. Đó là một con người trọn đời trung thành với lí tưởng mà mình chọn. Dù phải vượt qua vô vàn hiểm nguy, đau khổ suốt ba mươi năm sau vụ Nhân văn - Giai phẩm nhưng nhà văn không hề thù oán ai, vẫn 8 cặm cụi viết: “viết ngay viết thẳng từ dòng đầu đến dòng cuối”, ca tụng đất nước, cách mạng, tình yêu bằng những tác phẩm văn chương cuốn hút, thiết tha và nhân bản.
Phùng Quán đã để lại trong lòng bạn bè đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu đồng đội và nhân dân sâu sắc, một tấm gương lao động hết mình… với gần trăm tác phẩm thơ, trường ca, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện tranh được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ. Thời kì đầu, các sáng tác của Phùng Quán rất hồn nhiên, thể hiện sự nhiệt tình ca ngợi cuộc sống, quê hương,đất nước. Mười tám tuổi ông đã làm thơ. Các sáng tác thơ ca của Phùng Quán chân thành, tràn đầy nhiệt huyết với đất nước, với nhân nhân.
Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu như: Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1954), Tôi tự hào chế độ nước tôi (1955), Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi (1955). Hai bài thơ Chống tham ô lãng phí (1956), Lời mẹ dặn (1957) bộc lộ rõ nét và nhân cách tác giả. Bởi vì hai tác phẩm đó không chỉ được viết bằng mực mà còn được ông viết chính bằng máu thịt của mình. Nhưng bi kịch thay chính nó đã đẩy ông tới bước ngoặt đau thương của cuộc đời, bị kết là Nhân văn - Giai phẩm, là làm phản, bị tước quyền xuất bản tác phẩm.
Tuy suốt ba mươi năm bị treo bút nhưng Phùng Quán vẫn không ngừng sáng tác. Trong thời gian này, ông viết cả truyện tranh. Những câu chuyện từ thực tế cuộc sống được tác giả mang cả vào trong văn, trong thơ. Nhà văn viết khoảng sáu mươi truyện tranh cho thiếu nhi ở tất cả các đề tài.
Với đề tài chiến đấu nơi biên giới xa xôi có tác phẩm Vàng A Sìn kể chuyện đánh giặc, Tên thám báo và hai em bé,… Đề tài chống Pháp có: Thiên tình sử Điện Biên, Tiếng đàn trong đêm khuya, Dòng sông mất tích,…Đề tài lịch sử có thể kể đến: Tiếng chuông Thiên Mụ, Người cầm cờ lệnh vua Quang Trung, … Truyện cổ tích bằng thơ: Chàng Ná, Bốn anh em tài giỏi,…Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Nga, Trung Quốc,… Ngoài ra, Phùng Quán còn có nhiều tác phẩm khác viết về nghệ thuật sáng tác và diễn tấu, nhiều bài báo cảm động in trên các báo Văn nghệ, Người Hà Nội, Tiền phong,…Nhiều truyện ngắn của ông nhận được giải thưởng trong và ngoài nước dưới nhiều bút danh như: Con cò vàng trong cổ tích, Cuộc đời một đôi dép 9 cao su, Thạch sanh cháu Bác Hồ, Dũng sỹ chép còm, Người du kích hói đầu, Tiếng đàn trong rừng thẳm,… Nói đến quá trình sáng tác văn xuôi của ông không thể không nhắc tới tên các tác phẩm như tiểu thuyết Vượt Côn Đảo được viết khi nhà văn hai hai tuổi. Cả một thế hệ thanh niên lúc đó đã từng coi đây là cuốn sách gối đầu giường: “Thời ấy lũ học sinh – sinh viên mười chín, đôi mươi chúng tôi đọc say mê, có đoạn vừa đọc vừa khóc”. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng nhận xét về tác phẩm này: “Quán không được học hành đến nơi đến chốn nhưng có tài, chỉ gặp được các tù binh chính trị ở Côn Đảo mà viết được như thế là giỏi lắm”. Đặc biệt, nhắc đến sự nghiệp sáng tác của Phùng Quán, chúng ta không thể không nói đến tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội được nhà văn thai nghén suốt mười năm và là “Bản di chúc chiến sĩ cộng sản”,viết như một lời khẳng định “Tôi là Vệ quốc đoàn! Tôi chưa bao giờ là tên phản động”.
Tuổi thơ dữ dội được khởi thảo bên hồ Tây năm 1968 và được hoàn thành năm 1986. Đó là tác phẩm được viết bằng toàn bộ kí ức tuổi thơ của tác giả với một văn phong độc đáo tạo ra dấu ấn riêng cho tác phẩm. Đây cũng là tác phẩm văn xuôi thành nhất mà Phùng Quán được in bằng chính tên thật của mình sau ba mươi năm sống trong khổ cực.Tiểu thuyết xoay quanh cuộc sống chiến đấu và sự hi sinh của những thiếu niên mười ba, mười bốn tuổi trong hàng ngũ Đội thiếu niên trinh sát của Trung đoàn Trần Cao Vân. Tác phẩm miêu tả súc tích quá trình tham gia chiến đấu và hi sinh ở tuổi đời còn rất trẻ của các thiếu niên trinh sát, tập trung quanh các nhân vật tiêu biểu: Lượm, Mừng, Quỳnh sơn ca, Tư - dát, Bồng da rắn, Vịnh – sưa, Vệ - to - đầu,… Năm 1988, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất bản và nhận giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam, hai năm sau đó đã được dựng thành phim cùng tên.
Như vậy, Phùng Quán đã đặt vị trí của mình vào số phận của nhân vật, cùng với vốn sống và tài năng của mình để cho ra đời cuốn tiểu thuyết dày hơn bảy trăm trang mang tên Tuổi thơ dữ dội. Mỗi trang văn là một trang đời, là một mảng kí ức về lịch sử dân tộc, tác động rất lớn đến sự hiểu biết và trái tim độc giả. Vốn là tiểu thuyết viết cho thiếu nhi nhưng nó lại chinh phục được cả tâm hồn người lớn tuổi bởi nó được viết ra bằng tất cả tình cảm chân thành, từ cuộc sống hiện thực và cuộc 10 đời nhà văn. Đúng như lời nhà văn chia sẻ: “Thì ra những gì thật sự chân thành, lương thiện, trong sạch và cao thượng đều có khả năng kì diệu tự mở lấy đường đến thẳng trái tim các thế hệ mà chẳng cần giảng giải, biện minh”.
Quan niệm nghệ thuật về con người của Phùng Quán Theo Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Giáo sư Trần Đình Sử định nghĩa: "Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm nhận về con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, phương pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên các giá trị nghệ thuật thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó" [16; 55]. Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật, bởi nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học.