Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Ngôn ngữ nghệ thuật Trong quá trình phát triển lịch sử, loài người đã sáng tạo ra nhiều loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, … Mỗi một loại hình nghệ thuật sẽ có chất liệu riêng, có các tín hiệu thẩm mĩ riêng, có cách thức sáng tạo và tiếp nhận riêng, có chức năng riêng trong việc đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nếu như âm nhạc được tạo nên bởi các giai điệu, âm thanh; hội họa được tạo nên từ màu sắc và đường nét; điêu khắc và kiến trúc được tạo nên bởi đường, khối thì ngôn ngữ chính là chất liệu của văn học. Một trong các chức năng chính của ngôn ngữ là chức năng thẩm mĩ hay còn gọi là chức năng làm chất liệu cho nghệ thuật văn chương.
Xét theo phong cách học, loại ngôn ngữ này được gọi là ngôn ngữ văn chương hoặc ngôn ngữ nghệ thuật, đây cũng là một trong sáu phong cách ngôn ngữ chính được hình thành dựa trên ngữ cảnh và mục đích giao tiếp của con người. Ngôn ngữ nghệ thuật là chất liệu và là phương tiện mang tính đặc thù của văn học. Ngôn ngữ nghệ thuật “được tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng, hàm súc và đặc biệt gợi cảm” [17; tr. Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi chính ngôn ngữ đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện,… Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm.
Bên cạnh đó, nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm. Có thể nói, trong khi thực hiện chức năng thẩm mĩ, ngôn ngữ cũng đồng thời thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy. Các nhà văn khi sáng tác ra một tác phẩm, họ đã trải qua một quá trình nhận thức, chiêm nghiệm về tự nhiên, cuộc sống và xã hội xung quanh. Rồi sau đó thể hiện kết quả nhận thức và tư duy của mình thông qua các hình tượng nghệ thuật, các tín hiệu thẩm mĩ.
Vì thế, tác phẩm văn chương mang tính hình tượng sinh động, cụ thể, cá thể và tác động vào cảm xúc, lí trí độc giả. Như vậy, khi sáng tác tác phẩm, các tác giả đã tiến hành hoạt động tư duy nghệ thuật, sau đó thể hiện qua các tín hiệu thẩm mĩ để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật. Khi tiếp nhận, độc giả cũng tiến hành nhận thức và lĩnh hội tác phẩm theo các tín hiệu thẩm mĩ để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ của tác phẩm. Và các tín hiệu thẩm mĩ ở đây chính là ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học hay còn gọi là ngôn ngữ văn chương.
Ngôn ngữ nghệ thuật theo quan niệm của lí luận văn học Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận một nguyên lí là không có ngôn ngữ thì không có văn học. Theo quan niệm của lí luận văn học, bằng ngôn ngữ, tác phẩm văn chương có thể biểu hiện được mọi nội dung nhận thức của con người thuộc về mọi giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác), khắc họa hình tượng không thua kém gì các loại hình nghệ thuật khác, hơn thế nữa, còn khắc họa được mọi khía cạnh sâu kín, 9 tế nhị, phức tạp trong tình cảm, tâm lí con người. Đó chính là những ưu thế làm cho nghệ thuật văn chương sớm ra đời và tồn tại trường cửu cùng với con người và xã hội loài người, cho dù con người đã, đang và sẽ sáng tạo thêm nhiều loại hình nghệ thuật khác. Trong cuốn Cơ sở lí luận văn học (tập 2) (1985), Lê Bá Hán đã trình bày năm đặc điểm của ngôn ngữ văn học dưới góc nhìn của lí luận văn học như sau: Thứ nhất, ngôn ngữ văn chương có tính chính xác, trong sáng, biểu hiện đúng những gì muốn nói, cần nói.
Thường thì một khái niệm có thể được diễn tả bằng nhiều từ, nhưng tùy theo tư tưởng, tình cảm của từng tác giả mà mỗi người sẽ chọn ra một từ thể hiện đúng nhất, chính xác nhất điều mà bản thân muốn nói, muốn truyền đạt. Giống như Vích-to Huy-gô từng nói: “Trong tiếng Pháp, không có từ nào hay, từ nào dở, từ nào đặt đúng chỗ là từ đó hay”. Trong ngôn ngữ văn chương cũng vậy, sự giác ngộ sâu sắc về ngôn ngữ của các nhà văn giúp sự việc, hiện tượng được tái tạo sinh động, miêu tả đúng cảnh vật, khắc họa đúng hình dáng, làm cho tác phẩm của họ có giá trị bền lâu. Thứ hai, tính hàm súc, văn học đòi hỏi sử dụng một khối lượng những chất liệu và phương tiện nghệ thuật tối thiểu nhằm đạt đến một hiệu quả nghệ thuật tối đa.
Hàm súc ở đây chính là cách dùng từ sao cho thật “đắt”, có giá trị biểu cảm cao nhất, miêu tả mọi sự vật, hiện tượng một cách cô đọng, ít lời nhiều ý, “lời chật, ý rộng”, vậy nên đôi khi những chỗ ngừng, chỗ ngắt câu, dấu ba chấm lại là chỗ được nói đến nhiều nhất khi phân tích một tác phẩm văn học. Nguyễn Du đã lật tẩy bản chất đê tiện, vô văn hóa của Mã Giám Sinh ngay trong những câu đầu tiên miêu tả về y chỉ bằng một chữ “tót”. Đây là đặc điểm nhưng đồng thời cũng là yêu cầu của ngôn ngữ văn chương. Thứ ba, ngôn ngữ văn chương phải có tính tạo hình và biểu cảm, tức là phải có khả năng tái tạo hiện thực như nó vốn có và mang tính truyền cảm.
Nhà văn phản ánh hiện thực và thế giới nội tâm bằng tư duy hình tượng và luận lí nên mượn ngôn ngữ để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn học. Ngôn ngữ văn học không trừu tượng như ngôn ngữ triết học, chính trị, cũng không phải ngôn ngữ kí hiệu hóa như một số môn khoa học; ngôn ngữ văn học trực tiếp xây dựng hình tượng trong tác phẩm dựa trên ấn tượng của nhà văn về con người, sự vật trong cuộc sống, nó gắn liền với quan điểm, tư tưởng và khát vọng của nhà văn, cho nên nó mang tính chất cảm tính. Tác giả tạo ra hình tượng bằng sức gợi ngôn từ, cho nên, mỗi nhà văn phải làm sao để vừa tái hiện thật nhất, sinh động nhất những cái vốn có, mà thông qua đó phải vừa phản ánh được ý đồ, tâm tư, tình cảm mà mỗi hình tượng muốn thể hiện. Thứ tư, một đặc điểm rất đáng chú ý đó là tính nhiều nghĩa, tức là tính nhiều nghĩa thông thường được nhân lên nhiều lần trong ngôn ngữ văn học.
Bản thân ngôn ngữ thông thường đã mang nhiều tầng nghĩa khác nhau, tùy vào hoàn cảnh mà người nói sẽ chuyển nghĩa, tạo nghĩa sao cho phù hợp, nhưng trong văn học, sự đa nghĩa không chỉ dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu mà còn có nghĩa mới, nghĩa phát sinh, đôi khi tạo nên hiện tượng “nhòe nghĩa” trong văn thơ. Chính đặc tính này đã làm cho mỗi từ, mỗi 10 ngữ trong tác phẩm văn học ẩn chứa một nét nghĩa, nét đẹp tiềm tàng, kích thích, khiêu gợi, tạo điều kiện cho người đọc, người nghe đồng sáng tạo. Cuối cùng, thuộc tính bản chất nhất của ngôn ngữ văn học – tính thẩm mĩ. Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện: hình thức và nội dung.
Hình thức của văn học chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng, nhà văn dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình, chắt lọc và khéo léo sử dụng ngôn từ để mở ra cánh của muôn vàn cảm xúc. Đó chính là cái đẹp mà ngôn ngữ văn chương mang lại, một tác phẩm không chỉ đơn thuần là kể lại một chuỗi sự việc trọn vẹn mà còn tác động sâu sắc đến tâm tư độc giả, làm lắng đọng những giá trị tinh thần khó phai. Tuy nhiên, Lê Bá Hán không xếp tính thẩm mĩ vào hệ thống các đặc điểm đã nêu mà quan niệm rằng nó là thuộc tính của mọi thuộc tính, hòa thấm vào các thuộc tính khác, [10; tr178-197]. Ngôn ngữ văn chương theo quan niệm của phong cách học Theo quan niệm của phong cách học, ngôn ngữ văn chương được xếp vào phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Ngôn ngữ nghệ thuật ra đời từ rất sớm và vì được cải tạo từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (khẩu ngữ) nên có thể xem là một loại hình phái sinh của khẩu ngữ [41; tr. Tuy nhiên, khẩu ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật có sự đối lập nhau về mặt chức năng, nếu khẩu ngữ dùng để giao tiếp trong cuộc sống thông thường thì ngôn ngữ nghệ thuật lại có chức năng thông báo – thẩm mĩ. Một mặt, tác phẩm nghệ thuật thông báo một nội dung nào đó, nhưng mặt khác lại đòi hỏi nó đáp ứng nhu cầu cái đẹp của con người. Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (đặc trưng nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng.
Theo quan điểm của Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học tiếng Việt (1999), muốn thực hiện chức năng thẩm mĩ, ngôn ngữ nghệ thuật phải có được những đặc trưng chung như tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa. Đầu tiên là về tính cấu trúc. Mỗi văn bản nghệ thuật tự thân nó là một cấu trúc, trong đó các thành tố nội dung tư tưởng, tình cảm, hình tượng và các thành tố hình thức ngôn ngữ diễn đạt chúng không những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung. Sự lựa chọn, cấu tạo và tổ hợp những thành tố này bị quy định bởi chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật, cụ thể hợn là bởi ý định thẩm mĩ của tác phẩm.
Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất mà theo đó “các yếu tố ngôn ngữ trong cùng một tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau và hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung” [7; tr. Tất cả các yếu tố và các mối quan hệ như thế làm cho văn bản trở thành “một bản hòa tấu, có một tổng hợp lực mạnh mẽ, tác động đến người tiếp nhận văn bản” [36]. Chỉ cần bỏ đi một từ, thay bằng từ khác là có thể làm hỏng một câu thơ, câu văn, phá hỏng nhịp điệu của nó, xóa sạch mối quan hệ của nó với hoàn cảnh xung quanh.