mở đầu cho tự sự học cấu trúc chủ nghĩa. Trong công trình này, Propp bất mãn với lối phân loại truyện cổ tích chỉ dựa vào nhân vật, mà nhân vật thì biến hoá khôn lường, không cung cấp tiêu chí bất biến cho sự phân loại. + Nhóm thứ hai là tập trung nghiên cứu sự triển khai của diễn ngôn trần thuật, đại diện cho nhóm này là G. Bước phát triển thứ hai của tự sự học theo hướng chủ nghĩa cấu trúc kinh điển là nghiên cứu lời kể, cách kể, hoặc nói cách khác là nghiên cứu diễn ngôn tự sự.
Nghiên cứu cố sự, sự kiện, hành động có rất nhiều hạn chế, bởi cùng một chuyện mà người ta có nhiều cách kể khác nhau và trở thành những truyện khác nhau. + Nhóm thứ ba cho rằng cấu trúc diễn ngôn và cấu trúc chuyện đều quan trọng như nhau, chủ trương nghiên cứu kết hợp cả hai mặt. Tiêu biểu cho nhóm này là Prince, S. Chatman và Mieke Bal.
Với những nội dung trên, ta có thể thấy tự sự học kinh điển tập trung nghiên cứu cấu trục của truyện và diễn ngôn tự sự, mối quan hệ giữa sự kiện, nhân vật, cách kể, ngôi kể, giọng điệu, điểm nhìn, thời gian, không gian,. Trên cơ sở đó, tự sự học cung cấp hệ thống khái niệm, phương pháp để không chỉ khai thác các giá trị của tác phẩm cụ thể mà còn đi sâu nhận thức hình thái 8 kết cấu, quy luật vận động, sáng tác, phương thức biểu đạt và đặc trưng thẩm mĩ của thể loại tự sự. Bên cạnh đó, tự sự học kinh điển lại coi văn bản tác phẩm là một hệ thống tự thân khép kín, không có liên hệ với bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội. - Khi tự sự học kinh điển bị công kích từ phía chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa lịch sử, vào những năm 80 xuất hiện hệ hình tự sự học hậu kinh điển.
Đây là một hướng nghiên cứu mở, nó kết hợp với quan niệm phê bình phản ứng người đọc và hướng nghiên cứu văn hoá đang thịnh hành, nghiên cứu tự sự trong quan hệ với người đọc, với ngữ cảnh và với các lĩnh vực tự sự ngoài văn học. Trong quá trình phát triển của mình, tự sự học hậu kinh điển cho thấy ba hướng nghiên cứu chính: + Nghiên cứu đặc trưng chung của tác phẩm tự sự, bất kể sự khác nhau về phương tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh, truyền hình, báo chí…). Khái niệm tự sự truyền thống chỉ đóng khung trong phạm vi văn học. + Từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng chuyển sang phân tích cấu trúc tự sự của tác phẩm cụ thể.
Điều này cũng giống như thi pháp học cấu trúc Pháp từ chối phân tích tác phẩm cụ thể. Nhưng nhu cầu phân tích thi pháp tác phẩm cụ thể cũng rất tự nhiên. Mối quan hệ giữa tự sự học kinh điển và tự sự học hậu kinh điển có sự giao thoa và kế thừa. Chẳng hạn, nói riêng về quan hệ tự sự và tiếp nhận.
Chủ nghĩa cấu trúc nghiên cứu ngữ pháp tự sự nhằm tìm một con đường tắt để tìm nghĩa tự sự trong tính khép kín. Song đó là ảo tưởng, hoặc là chỉ thích hợp với một số văn bản giản đơn nào đó. Mặc dù trong văn bản tự sự, người kể luôn luôn dùng mọi biện pháp để lũng đoạn, cầm tù người đọc, song ở khâu tìm nghĩa thì văn bản vẫn là hiện tượng đa nghĩa do chịu sự chi phối của người đọc và ngữ cảnh. + Mô hình tự sự học hôm nay có công thức “tự sự học + X”, “X” ở đây có thể là chủ nghĩa nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa hay nghiên cứu hậu thực dân, nghiên cứu tự sự học tâm lí (như kiểu của L.
9 Vygotski trong Tâm lí học nghệ thuật), tự sự học lịch sử (như H. Whiter), tự sự học pháp luật, tự sự học tu từ (như Phelan, Karl Kao, Lí Kiến Quân), tự sự học hậu hiện đại (như M. Coli, Hồ Toàn Sinh). Năm 2003, Việt Nam có Hội thảo tự sự học đầu tên được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội và việc xuất bản cuốn Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên đã góp phần rất lớn vào việc nghiên cứu một chuyên ngành văn học quan trọng ở Âu - Mỹ, chuyên ngành Tự sự học.
Phan Thu Hiền với bài viết “Về lý thuyết tự sự của Northrop Frye” [36, tr.56-70] trong cuốn Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử [36] đã giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc nhất của lý thuyết phê bình huyền thoại với quan niệm cho rằng mục tiêu của văn chương là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống. Nguyễn Đức Dân giới thiệu về A. Greimas trong bài “Greimas - người xây nền móng cho trường phái kí hiệu học Pháp” [36] với mô hình cấu trúc cơ sở chủ nghĩa, mô hình cấu tạo. Trong công trình Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử [36] do nhóm tác giả Trần Đình Sử, Trần Đăng Suyền, Lê Lưu Oanh (đồng chủ biên) đã làm rõ các khái niệm tự sự học như: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu,.
Ngoài ra, Trần Đình Sử còn mang đến cho người nghiên cứu tự sự học cuốn Tự sự học - Lí thuyết và ứng dụng (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành, 2017). Có thể nói, Tự sự học - lí thuyết và ứng dụng do Giáo sư Trần Đình Sử cùng cộng sự thực hiện cho đến nay là công trình bao quát nhất về lịch sử, quá trình, các trường phái, đại diện của tự sự học thế giới. Từ kinh điển đến hậu kinh điển không hàm chứa trong đó sự phủ định mà hiện lên tính chất bổ khuyết, làm đầy đủ và sâu sắc hơn nhận thức về tự sự. Ở đó, nơi các lí thuyết ngưng đọng hoặc đang vận động, câu chuyện về quá trình giao tiếp cùng khả năng diễn giải các mô hình giao tiếp trong đời sống và trong nghệ thuật dường như có thể tìm thấy một quy luật, một đề xuất về sự diễn dịch hay 10 những đòi hỏi đa dạng hơn bởi tính phong phú của thực tiễn.
Những khả năng của lí thuyết, như vậy, vẫn luôn mở ra ở phía trước. Có thể thấy trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, tiếp nhận lý thuyết tự sự và ứng dụng vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã mở ra một hướng nghiên cứu mới nhiều tiềm năng. Nếu nghiên cứu văn học trước đổi mới thường nặng về miêu tả các dữ kiện bề ngoài như niên đại, bối cảnh lịch sử xã hội, tiểu sử tác giả, nội dung phản ánh, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa hiện thực,… thì sau đổi mới, dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự, đi sâu phân tích cấu trúc tự sự bên trong, xem xét những vận động có tính quy luật của các yếu tố, nghiên cứu văn học đã, đang và sẽ dần từng bước khắc phục những giới hạn, giúp người đọc ý thức hơn về việc tiếp nhận văn chương như tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn hóa. Khái niệm nghệ thuật tự sự Theo Từ điển văn học: “Tự sự là một trong ba phương thức biểu đạt của văn học (bên cạnh trữ tình và kịch).
Nét đặc thù của tự sự là vai trò tổ chức của trần thuật, nó thông báo về một cái gì đó đã xảy ra và được nhớ lại, đồng thời mô tả hoàn cảnh, hành động và dáng nét các nha vật, nhiều khi còn thêm cả những lời bàn luận. Xét về chỉnh thể, trần thuật giữ vai trò chủ đạo trong tác phẩm tự sự, gắn bó tất cả những gì được tác phẩm miêu tả. Các đặc điểm của tự sự phần lớn bị quy định bởi các đặc điểm của trần thuật. Ngôn từ ở đây chủ yếu làm chức năng thông báo về cái đã xảy ra từ trước.
Giữa dòng ngôn từ đang tuôn chảy và các hành động mà nó miêu tả có một khoảng cách về thời gian”. Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi người trần thuật, người trần thuật này được gọi là “ngôi thứ ba”, và thường là “vô hình”, phi nhân cách hóa trong tác phẩm. Tự sự hết sức tự do trong việc chiếm lĩnh không gian và thời gian. Nó có khả năng đặc biệt trong việc tái hiện kĩ lưỡng những quá trình diễn ra trong không gian rộng, trong những đoạn thời gian dài.
Tự sự sử dụng hầu hết 11 các phương tiện, biện pháp miêu tả khiến hình tượng gây được cảm giác về hình khối và thanh âm. Cái được mô tả có thể ứng với dạng vốn có của đời sống hoặc có thể hoàn toàn tân tạo, ước lệ. Tính ước lệ của tự sự chủ yếu ở người miêu tả, tức là người trần thuật. Hình thức tự sự dựa vào các kiểu kết cấu cốt truyện khác nhau.
Tác phẩm tự sự có thể được viết bằng văn xuôi hoặc thơ (văn vần), dung lượng không hạn chế. Tự sự có thể đưa vào tác phẩm một số lượng lớn các tính cách và các sự kiện, nó có thể xây dựng được những tính cách phức tạp, mâu thuẫn, đa diện, đang hình thành, mặc dù không phải tác phẩm nào cũng được như vậy, nhưng khả năng tiềm tàng của tự sự là chỉ ra được cuộc đời trong tính toàn vẹn của nó, là khám phá được bản chất của cả một thời đại, là bộc lộ được tính quy mô của hành vi sáng tạo. Tự sự sử dụng được ở mức rộng lớn nhất khả năng nhận thức, tư tưởng của văn học và nghệ thuật nói chung. Tác phẩm tự sự có đặc điểm phản ánh hiện thực thông qua các yếu tố sự kiện, biến cố và hành vi con người; thường có cốt truyện gắn với hệ thống nhân vật.
Loại hình tự sự thể hiện tâm trạng, tư tưởng của chủ thể thông qua phản ánh hiện thực khách quan. Nhà văn phải dùng đến các yếu tố như sự kiện, nhân vật trong một thời gian và không gian nghệ thuật nhất định. Trong cuốn Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử, Gs. Trần Đình Sử đã đưa ra khái niệm tự sự học là “ một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần truật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc” [35, tr.
Nói như vậy, đối tượng chủ yếu của tự sự học là tự sự văn học. Cũng theo GS.