CHƯƠNG 1 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VỚI TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG ĐẶT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Nghệ thuật trần thuật - một hướng tiếp cận mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 1. Lý thuyết về nghệ thuật trần thuật Tự sự học như một ngành nghiên cứu được nhà trúc luận Pháp Tz. Todorov chính thức gọi tên là Tự sự học (Narratologie - tiếng Pháp) vào năm 1969.
Tự sự học kinh điển là tự sự học giai đoạn những năm 60 đến khoảng những năm 80 của thế kỉ XX. Bước sang những năm 90 cho đến nay tự sự học bắt đầu có tên gọi là tự sự học hậu kinh điển. Các nước Đông Á nói chung tiếp nhận tự sự học từ thế kỉ XX và Việt Nam nói riêng tiếp nhận tự sự học từ đầu thế kỉ XXI. Khởi điểm cho một nền văn chương hậu hiện đại với cái nhìn mới về trần thuật học là sự phát triển vượt bậc của thể loại tiểu thuyết từ truyền thống đến hiện đại và hậu hiện đại.
Về bản chất thể loại, tiểu thuyết không còn là một đại tự sự, mà nó trở thành tiểu tự sự đan cài của nhiều loại hình, loại thể nghệ thuật khác nhau. Về hiện thực phản ánh, tiểu thuyết không còn là những câu chuyện vụn vặt trong đời sống mà nó đi sâu vào thế giới nội tâm thể hiện cái tôi bản thể với những vấn đề nhức nhối như tha hóa, cô đơn, mất trí nhớ và khát khao tìm kiếm sự đồng điệu trong cuộc sống bề bộn, phức tạp. Về cốt truyện, tiểu thuyết truyền thống kể theo một trật tự tuyến tính, đến tiểu thuyết hiện đại có sự đảo trật tự, còn về sau, tiểu thuyết hậu hiện đại tái hiện truyện kể theo nhiều tuyến, không rõ mốc thời gian, phi logic, rời rạc. Cùng với đó, kết cấu trong tiểu thuyết hậu hiện đại không còn đơn thuần là kết cấu khép kín hay mở, mà là kết cấu lồng ghép, đứt đoạn, truyện trong truyện, truyện về truyện chiếm ưu thế.
Điểm nhìn và người kể chuyện không còn là ngôi kể thứ ba toàn tri thay vào đó là sự thay đổi liên tục các điểm nhìn và ranh giới giữa các điểm nhìn trở nên nhòe mờ, lẫn lộn, khó phân định. Nhân vật trong tiểu thuyết hậu hiện đại không có diện mạo rõ ràng, không mang tính cách, tâm lý giữa vẻ ngoài và cái bên trong mà hầu hết là kí hiệu, biểu tượng, phi tính cách được giải mã bằng nhiều điểm nhìn và giọng điệu khác nhau. Thêm vào đó, dòng chảy của thời gian trong tiểu thuyết hậu hiện 10 đại là thời gian tâm lí, phi tuyến tính chỉ hiện diện trong một thoáng chốc hay một sự kiện rồi bị xóa mờ; thời gian của huyền thoại và tâm linh được tái hiện nhiều như gắn chặt với hồi ức của người kể chuyện. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật không mang tính đơn nhất, đối thoại thông thường mà mang tính đa thanh, tính giễu nhại, suy tư triết lí, chiêm nghiệm và tính đối thoại trở nên mạnh mẽ.
Những đặc điểm của tiểu thuyết hậu hiện đại được thể hiện rõ qua các tác phẩm như Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh; Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà; Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Mình và họ, Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình Phương. Đây chính là miền đất mới mang dấu ấn rõ rệt của tiểu thuyết hậu hiện đại. Chính sự phát triển phá vỡ mọi quy tắc của tiểu thuyết truyền thống đã dẫn đến sự cách tân mạnh mẽ của lý thuyết về tự sự học hiện đại. Bắt nguồn từ phương Tây ở thế kỉ XIX, P.
Lubbock đã nghiên cứu sâu về điểm nhìn trần thuật của tác phẩm, sau đó, mở rộng ra với những cái tên của G. Lanser đã đem đến sự phát triển của tự sự học hiện đại. Hầu hết những nghiên cứu về điểm nhìn đều chú trọng vào người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba; người kể chuyện toàn tri hoặc hạn tri; người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài; người kể chuyện kịch hoá hoặc phi kịch hoá, người kể chuyện là các nhân vật trong truyện hoặc là không. Người có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự ra đời của diễn ngôn trần thuật là G.
Genette trong công trình Diễn ngôn trần thuật. Phát triển công trình của G. Genette là Triệu Nghị Hành. Ý kiến của ông trong công trình Khi người nói được nói đến – Dẫn luận tự sự học so sánh giống với quan điểm của trường phái G.
Ông cho rằng đối tượng nghiên cứu của tự sự học được mở rộng ra là văn bản và diễn ngôn tự sự. Từ đó, hàng loạt các khái niệm quan trọng liên quan đến trần thuật học được ra đời và ứng dụng vào trong nghiên cứu tác phẩm tự sự. Tự sự học trong lý thuyết nghiên cứu và ứng dụng ở các nước Đông Á được biết đến qua thuật ngữ “narratology”. Nó được hiểu theo hai cách là tự sự học và trần thuật học.
Theo Trần Đình Sử trong cuốn Tự sự học lý thuyết và ứng 11 dụng, tự sự học là tên gọi phù hợp, vì nó không chỉ nghiên cứu diễn ngôn mà còn nghiên cứu ngữ pháp truyện. Vì vậy, trần thuật học chỉ là một bộ phận quan trọng của tự sự học. Dựa trên ngành nghiên cứu tự sự học, trần thuật học ra đời như một ngành nghiên cứu mới về tác phẩm tự sự. Trần thuật đóng vai trò vừa là phương thức, vừa là đặc trưng quan trọng không thể thiếu đối với thể loại tác phẩm tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết.
Trần thuật học đã trở thành một ngành nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà lí luận, phê bình văn học ở Việt Nam. Một tác phẩm tự sự không thể thiếu yếu tố trần thuật. Theo tự sự học hiện đại, trần thuật nêu bật vai trò của người kể chuyện. Điều đó cho thấy tiểu thuyết hiện đại không còn đề cao vai trò của cốt truyện và nhân vật như trước đây, mà tiểu thuyết hiện đại đề cao vai trò của người kể chuyện.
Từ đó, trần thuật đi sâu vào các khái niệm liên quan với văn bản và diễn ngôn của tác phẩm tự sự như người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể, giọng điệu, thời gian. để tìm ra sự vận động trong cấu trúc thể loại, làm nổi bật lên giá trị tư tưởng và ý nghĩa của tác phẩm. Sự thay đổi từ tự sự học sang trần thuật học đã mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới và ở Việt Nam khi tìm hiểu về kĩ thuật viết tiểu thuyết trong hơi hướng cách tân sáng tạo. Như vậy, trần thuật học là một nhánh của tự sự học, nó chỉ phản ánh một phương diện của tự sự là diễn ngôn tự sự.
Nó được xem như một thủ pháp trần thuật trong một tác phẩm tự sự. Theo quan điểm này, trần thuật học khác với tự sự học, nó là con đẻ của tự sự học, dần hình thành và phát triển qua quá trình nghiên cứu các thể loại tự sự của văn bản văn học, đặc biệt là với thể loại tiểu thuyết. Trong bài viết Về việc mở ra môn trần thuật học trong ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam Lại Nguyên Ân đã khẳng định: “Thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật, cái được thuật, được kể, trong tác phẩm văn học tự sự là chuyện” (Lại Nguyên Ân, 2004). Phương Lựu cũng thống nhất với nhận định trên: “Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong truyện.
Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện, nhân vật theo một trình tự nhất định” (Phương Lựu, 1985). Qua đó, chúng tôi nhận thấy nghệ thuật trần thuật có thể gọi là nghệ thuật kể chuyện, thuật lại câu chuyện, sự kiện, con người theo một cách nhìn nào đó. Nghệ thuật trần thuật được thể hiện qua các yếu tố như người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu, 12 thời gian trần thuật. Dưới góc nhìn của trần thuật học hiện đại, nghệ thuật trần thuật có những đặc điểm khác biệt so với nghệ thuật trần thuật trong văn bản tự sự theo quan niệm truyền thống.
Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự, theo đó, chúng tôi tiếp nhận nghệ thuật trần thuật khi ứng dụng vào nghiên cứu hai tiểu thuyết đương đại của Nguyễn Bình Phương như một thủ pháp trần thuật trong tác phẩm, “xem tác phẩm nghệ thuật như một hành vi giao tiếp nên các yếu tố trần thuật” (Lại Nguyên Ân, 2004). Những cách tân về nghệ thuật trần thuật qua tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tiểu thuyết là thể loại tiêu biểu cho loại hình tự sự. Với đặc trưng thi pháp và bằng phương thức trần thuật, tiểu thuyết đã khái quát bức tranh đa tầng của hiện thực cuộc sống. Tìm hiểu vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết nói riêng và trong văn bản tự sự nói chung, chúng ta hiểu rõ hơn những cách tân mới mẻ, độc đáo của nghệ thuật trần thuật.
Ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại hình thành một kiểu cảm quan mới, cảm quan hậu hiện đại đòi hỏi một nghệ thuật trần thuật mới. Bởi vì, các nhà tiểu thuyết cảm nhận thế giới bằng sự hoài nghi, khủng hoảng niềm tin vào tất cả những gì là giá trị tuyệt đối đã từng tồn tại trước đó, đặc biệt là niềm tin vào con người hậu hiện đại. Xuất phát từ cảm quan trên, các nhà tiểu thuyết đã nhìn nhận tính chất của cuộc sống là những mảnh vỡ, vụn vặt, phi logic. Chính vì vậy, nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết đã có những cách tân mới để có thể chuyển tải đến người đọc thông điệp của tác phẩm.
Người kể chuyện đóng vai trò trung tâm vì nghệ thuật trần thuật phải được thực hiện thông qua người kể chuyện để dẫn dắt diễn ngôn trong tác phẩm. Trong bài viết của Đỗ Hải Phong với tựa đề Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại, tác giả đã dẫn nguyên câu nói của Tz. Todorov về tầm quan trọng của người kể chuyện làm nên tác phẩm tự sự: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng. Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” (Đỗ Hải Phong, 2004).
Theo lý thuyết tự sự học, kể chuyện từ ngôi thứ ba với người kể chuyện mang điểm nhìn toàn tri vẫn là hình thức trần thuật phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.