CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG 1. Vấn đề lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Truyện ngắn thể hiện sự tích lũy dồi dào của bản thân nhà văn về ý nghĩ, nhận thức, kết quả của sự quan sát chăm chú và có trách nhiệm trước cuộc sống. Truyện ngắn có sự việc, tình huống, cốt truyện, nhân vật. Hành động truyện ngắn hạn chế trong số trang.
Có những truyện ngắn hay, trong mấy trang mà nói được cả một cuộc đời. Có khi tác giả chỉ dựng vài khung cảnh đơn sơ, cốt truyện giản dị mà qua đó, người đọc biết được số phận, tính cách của nhân vật. Dung lượng ngôn ngữ trong truyện ngắn không nhiều. So với tiểu thuyết, truyện ngắn có sự dồn nén về ngôn ngữ, ít nhân vật, chi tiết chọn lọc, tâm lý nhân vật không miêu tả dài dòng, thường có một ý chính làm chủ đề, các chi tiết trong truyện thường xoay quanh chủ đề ấy, hầu như không có chi tiết thừa, lan man.
Truyện ngắn phản ánh tư tưởng sâu sắc của nhà văn khi một truyện có nhiều cảnh, nhiều việc, tác giả thường đóng vai người ngoài mà kể lại cho người đọc nghe. Tác giả còn dùng hình thức mình kể chuyện về mình, mình nói tâm lý, tư tưởng của mình, thì được người đọc tin tưởng là có thật, là đúng. Vì vậy, trong thể loại truyện ngắn, nghệ thuật kể chuyện của nhà văn rất quan trọng, góp phần to lớn vào việc thể hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Tác phẩm văn học là cầu nối giữa nhà văn và độc giả.
Những tư tưởng, tình cảm của tác giả qua lối kể chuyện trong tác phẩm đến với người đọc. Lời kể chuyện trong tác phẩm luôn in đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, thể hiện tài năng nghệ thuật và phong cách tác giả. Qua lời kể, người đọc hình dung, suy ngẫm, tưởng tượng, cảm xúc về nội dung tư tưởng mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm. Văn học là nghệ thuật ngôn từ.
Lời văn của tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật. Trong nghệ thuật, nhà văn hoàn thiện văn bản, tạo thành lời văn duy nhất hợp với ý tình định nói. Lời văn nghệ thuật là hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học được tổ chức theo qui luật nghệ thuật riêng, tùy thuộc vào nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ và tài năng sáng tạo của nhà văn. 20 Tác phẩm văn học được xây dựng trên chất liệu ngôn ngữ.
Đặc điểm nổi bật phân biệt lời văn nghệ thuật với lời nói giao tiếp thông thường là tính hình tượng.N Pospelov trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học đã khẳng định: “Lời văn của tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có tính biểu cảm - đó là lời văn biểu cảm hình tượng”. Đời sống hiện thực được phản ánh qua lăng kính chủ quan của nhà văn, tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Tính hình tượng của lời văn nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ đó là lời của một chủ thể tư tưởng thẩm mỹ có tầm khái quát nhất định. Vì vậy, lời văn nghệ thuật dễ làm cho người đọc cảm xúc, yêu thích, trở thành lời nói của nhiều người.
Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học có khi là lời của nhà văn, lời của người kể chuyện, lời của các nhân vật. Có khi tác giả nhập thân vào một người mẹ, một người vợ, một cô gái, anh bộ đội để phát biểu tư tưởng, cảm xúc của mình. Lời văn nghệ thuật là của nhân vật trữ tình, không phải là một người thực tế. Vì vậy, lời văn nghệ thuật rất phong phú, đa dạng, tinh tế.
Lời văn nghệ thuật cô đọng, súc tích, gợi hình, gợi cảm, giúp cho người đọc cảm thụ cuộc sống một cách mới mẻ, sâu sắc. Mỗi tác phẩm văn học có một lời văn nghệ thuật riêng. Lời văn nghệ thuật của mỗi tác phẩm qui định ra cách dùng từ, đặt câu, sử dụng biện pháp tu từ. để tác phẩm nghệ thuật đạt giá trị thẩm mỹ cao.
Tầm quan trọng của lời văn nghệ thuật đã được nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: “Lời văn là yếu tố quan trọng cho nghệ thuật viết truyện ngắn. Lời kể và phong cách kể chuyện là những điều được người viết truỵện ngắn đặc biệt chú ý khai thác và xử lý, nhằm đạt hiệu quả mong muốn” [2;36]. Lời văn nghệ thuật là lời của thế giới hình tượng muốn được nói bằng ngôn từ. Tính hình tượng của lời văn còn bắt nguồn từ sự truyền đạt, sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh vật, con người được tái hiện trong tác phẩm.
Lời văn nghệ thuật phải có tính tổ chức cao để giải phóng hình tượng của từ. Lời văn nghệ thuật không thông báo giản đơn các việc xảy ra với nhân vật, mà còn tái hiện một phức hợp quan hệ chủ quan và khách quan trong sự kiện đó. Tìm hiểu lời văn nghệ thuật là phải tìm hiểu câu văn, vì câu văn là đơn vị cơ bản của tác phẩm văn học. Câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng mộc mạc, giản dị, sử dụng nhiều câu đơn, nhiều biện pháp tu từ, có lúc nhẹ nhàng, dí dỏm, có lúc trầm lắng suy tư.
21 Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cuốn hút người đọc từ cách kể đa dạng, chất liệu hiện thực phong phú, đậm đà bản chất nhân hậu và lòng yêu nước thiết tha của tác giả. Vì thế, tìm hiểu lời văn nghệ thuật là tìm hiểu một bộ phận hình thức của tác phẩm. Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật ở tuyến tường thuật khách quan hóa trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Ở phương thức tường thuật khách quan hóa theo quan điểm của Đinh Trọng Lạc: “Người tường thuật không được biểu thị trong văn bản, dẫn dắt câu chuyên từ ngôi ba. Người tường thuật không thuộc vào các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật, không tham gia vào hành động nghệ thuật, mà chỉ đứng sau hành động đó để quan sát” [17; 165]; Theo quan niệm trên, khảo sát 49 truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ta thấy phương thức tường thuật khách quan hóa chiếm 11/49 truyện ngắn.
Phương thức tường thuật này biểu hiện ở các kiểu tường thuật sau đây: 1. Kiểu tường thuật lạnh lùng Trong kiểu tường thuật lạnh lùng, người kể hoàn toàn đứng ở bên ngoài, cố ý tạo ra một khoảng cách nhất định với câu chuyện, cố gắng tách mình ra khỏi ttuyện, không chú ý đến những biến cố xảy ra với nhân vật. Điều này làm cho người đọc hoàn toàn tự do có những suy nghĩ, đánh giá theo cách riêng không cần sự trợ giúp của người kể : " Lối kể lạnh lùng cũng làm cho người đọc cảm thấy rằng hiện thực được phản ánh thực sự khách quan và do đó gây ấn tượng mạnh mẽ" [17; 167]. Xét 11 truyện ngắn được kể theo phương thức tường thuật khách quan hóa thì chỉ duy nhất Con chim vàng thuộc kiểu tường thuật lạnh lùng.
Chúng tôi xin đề cập đến truyện ngắn Con chim vàng. Ở truyện này, người kể dường như không quan tâm đến những biến cố của câu chuyện, thuật lại lai lịch, tình cảnh của nhân vật một cách hoàn toàn khách quan. Người kể tuyệt đối không tham gia vào câu chuyện bi thảm của em bé ở đợ chăn trâu 12 tuổi tên là Bào. Chỉ vì mẹ em thiếu hai thúng thóc của tên hương quản trong làng mà Bào phải đến ở đợ cho nhà nó.
Thằng Quyên - con mụ chủ - ao ước được chơi với con chim vàng thường đậu trên cây trứng cá trước sân nhà. Hai mẹ con nó buộc thằng Bào phải bắt đươc con chim quí. Sau nhiều lần thất bại và nhiều đêm trằn trọc nghĩ kế, Bào quấn lá cây đầy mình "ngụy trang" rồi 22 rình sẵn trên cây. Cuối cùng, Bào cũng chộp được con chim vàng nhưng cả người và chim đều rơi xuống đất, chim tan xác còn Bào lịm đi trong vũng máu.
Vậy mà mụ chủ không hề mảy may để ý đến tính mạng của cậu bé đáng thương, mụ chỉ tiếc con chim đã chết. Câu chuyện thảm thương này đã gián tiếp tố cáo bản chất bất nhân của bọn địa chủ đối với những người dân nghèo. Người đọc xót xa, thương cảm cho số phận bi thảm của người nông dân dưới chế độ phong kiến bao nhiêu thì càng rùng mình kinh sợ trước sự độc ác của bọn địa chủ bấy nhiêu, ở đây người kể dường như hoàn toàn dửng dưng với câu chuyện, sử dụng lời nói trực tiếp của nhân vật để nó tự bộc lộ bản chất của mình: "Lời văn trực tiếp hướng thẳng tới đối tượng của nó, với tư cách là sự biểu hiện của cấp ý nghĩa cuối cùng của người nói" [5;195]. Người kể không bộc lộ thái độ, không một lời bình luận trước câu chửi ác độc của mụ hương quản:“Con tao chơi chim sống chớ giỗ cha mày đâu mà bắn cho chim chết”.
Thậm chí, chứng kiến cảnh cậu bé Bào rơi từ trên cao xuống, mặt đập vào gốc cây, máu tuôn ra lai láng, tác giả vẫn “lạnh lùng” hạ bút: “Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi. Mặt Bào tối đen. Bào rơi xuống như trái thị. Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu”.
Cái giọng “vô cảm”, “tàn nhẫn” ở những câu kết thúc truyện làm cho người đọc ghê tởm, căm thù bản chất tàn nhẫn của mụ địa chủ: “Mắt Bào chập chờn thấy tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng chẳng vớ được ai. Té ra mẹ thằng Quyên thò tay nâng xấc con chim vàng. Bào lại nghe tiếng tắc lưỡi: “Trời con chim vàng của con tôi chết rồi!”.
Tác giả không sử dụng một từ ngữ biểu cảm nào mà người đọc vẫn thấy được câu chuyện xảy ra đúng với hiện thực cuộc sống chứ không cần tác giả phải bình luận thêm. Ấn tượng mạnh mẽ về số phận cậu bé con nhà nghèo và cảm giác được tự do “đồng sáng tạo” là nội dung câu chuyện chứ không phải do sức gợi hình, gợi cảm của các phương tiện tu từ bởi vì các câu văn ở đoạn văn trên đều là các phương tiện có sắc thái trung hòa. Con chim vàng là truyện ngắn đầu tiên và có lẽ duy nhất tác giả Nguyễn Quang Sáng sử dụng kiểu tường thuật lạnh lùng. Nhờ sử dụng tài tình kiểu tường thuật này mà ngay từ khi câu chuyện mới xuất hiện, nó đã gây được tiếng vang lớn trong lòng độc giả, hứa hẹn sẽ là một cây bút truyện ngắn đầy tài năng.