Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài Chương 3: Các biểu hiện nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Thế giới nghệ thuật Nhà văn Seđrin quan niệm: “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”. Nói cách khác, một tác phẩm toàn vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật. Belinxki cũng từng nhận xét: “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó”.
Theo giáo trình Lí luận văn học, tác giả Trần Đình Sử cho rằng: “Thế giới nghệ thuật là văn bản hình tượng – văn bản nội tại của văn bản ngôn từ. Gọi thế giới nghệ thuật là văn bản bởi các hình tượng có tính chất kí hiệu, có khả năng biểu hiện một phức hợp ý nghĩa – tư tưởng nhất định mà người ta cần đọc từng bộ phận, chi tiết để nhận ra. Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong nhà văn. Thế giới nghệ thuật là một thế giới kép: thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả.
Thế giới được miêu tả gồm nhân vật, sự kiện, cảnh vật…Thế giới miêu tả là thế giới của người kể chuyện, người trữ tình. Hai thế giới này gắn kết không tách rời như hai mặt của một tờ giấy. Tuy nhiên chúng không thể liên thông” [9, 81]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào 6 lưu).
Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy” [4, 302]. Có thể thấy, thế giới nghệ thuật trong văn học phản ánh vũ trụ và con người theo cách riêng của nó. Nhà văn – người nghệ sĩ muốn khẳng định tài năng, cá tính riêng của mình thì phải tạo ra được thế giới nghệ thuật riêng. Nó bao gồm không gian, thời gian riêng, quy luật tâm lí và quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… và xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật.
Như vậy, mỗi thế giới nghệ thuật ứng với quan niệm riêng về thế giới, cắt nghĩa về thế giới, giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Mặt khác, văn học lấy chất liệu là hiện thực khách quan song mỗi nhà văn lại có cái nhìn và cảm nhận khác nhau. Vì thế, mỗi tác phẩm sẽ là một thế giới nghệ thuật riêng, nó đặt ra nhiệm vụ cho người tiếp nhận là phải tìm hiểu để có thể bước vào thế giới của tác phẩm. Có thể kể đến các yếu tố biểu hiện của thế giới nghệ thuật như: không gian, thời gian nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu… Khi nghiên cứu bất kì một tác phẩm văn học nào, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật là điều cần thiết.
Nó sẽ giúp người đọc phần nào hiểu được quan niệm nghệ thuật, ý đồ, mục đích sáng tạo của tác giả. Vì thế, tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài cũng không nằm ngoài mục đích đó. Tô Hoài – Hành trình sáng tác và phong cách nghệ thuật 1. Cuộc đời Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại quê ngoại – làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội).
7 Ông sinh trưởng trong một gia đình thợ thủ công nghèo. Bút danh Tô Hoài cũng xuất phát từ hai địa danh sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức (quê ngoại nhà văn). Thuở nhỏ, Tô Hoài chỉ được học hết tiểu học rồi sớm trở thành anh thợ cửi như bao thanh niên khác. Sau đó, ông phải kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau: bán hàng, dạy học tư, coi kho, kế toán hiệu buôn… trải qua những ngày tháng thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính túi.
Cuộc sống khổ cực được Tô Hoài tái hiện qua cuốn Tự truyện bằng nỗi xót xa và cay đắng: “Ngày ngày tôi cuốc bộ vào thành phố tha thẩn ở các vườn hoa. Tôi xem kiến bò đến tận hôm tôi có thể phân biệt rạch ròi ra từng loại kiến xây tổ khác nhau”. Chính hoàn cảnh xuất thân, cuộc sống khó khăn của gia đình… đã tác động sâu sắc đến Tô Hoài khiến ông có sự đồng cảm với những số phận bé nhỏ, kiếp người lao động vất vả trong xã hội. Đồng thời, đây cũng là những kiến thức thực tế trong những trang viết đầy tính chân thực của nhà văn sau này.
Tô Hoài đến với nghề văn hết sức tự nhiên. Ông viết văn bằng vốn sống trực tiếp với sự thôi thúc từ bên trong của tâm hồn chứa chan cảm xúc. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong bài Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du khẳng định: “Cảm tưởng như bao nhiêu kinh nghiệm hàng ngày, trước sau đều được nhà văn đưa hết vào trang giấy. Ông sống để viết và phải viết, như phải ăn phải uống”.
Tô Hoài viết rất nhiều, dường như những câu chuyện của ông không bao giờ vơi cạn. Càng viết, nhà văn càng chứng tỏ năng lực của mình, sự hăng say và sáng tạo. Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị. Trước cách mạng tháng Tám, ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt Minh, viết báo bí mật.
Sau năm 1945, Tô Hoài làm báo Cứu quốc – cơ quan của Tổng bộ Việt Minh. Tháng 10 năm 1946, ông được vinh dự đứng trong hàng 8 ngũ của Đảng Cộng Sản. Từ đây ông càng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động cách mạng. Năm 1957, Tô Hoài được bầu làm Tổng thư kí của Hội, rồi giữ chức chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Nam.
Không chỉ có vậy, ông còn tham gia các hoạt động xã hội khác như: đại biểu Quốc hội khóa VII, Phó chủ tịch ủy ban đoàn kết Á – Phi, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Ấn, Ủy viên Ban Chấp Hành Hội hữu nghị Việt – Xô. Chính quá trình tham gia hoạt động cách mạng và giữ nhiều trọng trách khác nhau đã giúp Tô Hoài gắn bó khăng khít hơn với quần chúng nhân dân đặc biệt là người lao động. Vốn hiểu biết cùng với sự từng trải đó đã trở thành nguồn tư liệu quý giá cho cuộc đời viết văn của ông sau này. Tô Hoài vinh dự được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996.
Sự nghiệp sáng tác Trƣớc Cách mạng tháng Tám Tô Hoài là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi hiện thực, thành công ở nhiều thể loại: + Truyện ngắn: Dế mèn phiêu lưu ký (1941), O Chuột (1942), Giăng thề (1943), Nhà nghèo (1944), Xóm Giếng ngày xưa (1944) + Hồi kí: Cỏ dại (1944) + Tiểu thuyết: Quê người (1941) Sáng tác của Tô Hoài thời kì này tập trung vào hai mảng đề tài: truyện đồng thoại về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo. Truyện viết về loài vật của Tô Hoài có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm đầu tay Dế mèn phiêu lưu ký là một thành công xuất sắc của Tô Hoài, khẳng định vị trí của ông trên văn đàn. Viết về loài vật, Tô Hoài tìm đến hình thức sáng tác đồng thoại.
Ông đã 9 viết về thế giới loài vật trong cảm quan sinh hoạt, phong tục như đời sống của con người. Bên cạnh truyện viết về loài vật, đề tài miêu tả cảnh đói nghèo của người dân ở vùng ven Hà Nội, sống bằng nghề dệt thủ công, cũng được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động. Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những những người nông dân, thợ thủ công quanh năm lam lũ, điêu đứng vì miếng cơm manh áo, phiêu bạt nơi đất khách quê người. Có thể kể đến những tác phẩm như: Nhà nghèo, Ông Cúm bà Co, Xóm Giếng ngày xưa… Với cái nhìn khách quan, chân thực, mỗi tác phẩm của Tô Hoài đều là minh chứng phản ánh cuộc sống nghèo đói, lạc hậu bấp bênh của người dân nghèo trước Cách mạng.
Qua đó, Tô Hoài đã khẳng định được vị trí của một nhà văn hiện thực. Ở đề tài nào và đối tượng phản ánh nào, thế giới nghệ thuật của ông đều thấm đượm tính nhân văn. Sau cách mạng tháng Tám Cách mạng tháng Tám đánh dấu một bước chuyển biến trong tư tưởng và sáng tác của Tô Hoài. Ông đã nhanh chóng nắm bắt kịp thời các vấn đề mới của đời sống và sáng tác thành công ở nhiều thể loại khác nhau: + Truyện ngắn: Núi cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây Bắc (1953), Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành (1972), Người một mình (1998)… + Truyện thiếu nhi : Tuyển tập Văn học thiếu nhi, tập I & II (1999) + Tiểu thuyết: Mười năm (1957), Miền Tây (1967), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Đảo hoang (1976), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Quê nhà (1981), Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhớ Mai Châu (1988).
+ Kí: Đại đội Thắng Bình (1950), Nhật kí vùng cao (1969), Lăng Bác Hồ (1977), Tự truyện (1978), Hoa hồng vàng song cửa (1981), Cát bụi chân 10 ai (1992), Chuyện cũ Hà Nội (1998), Chiều chiều (1999), Ba người khác (2006)… + Tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997). Giai đoạn này, Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn hơn. Đó là cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc. Tô Hoài viết về Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng cả tình yêu đằm thắm thiết tha như chính quê hương mình.