phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, phần trọng tâm là Nội dung chính gồm ba chƣơng. Chƣơng 1: Khái lƣợc về thể loại tiểu thuyết và nhà văn Trịnh Quang Thành Khái quát về tiểu thuyết, những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Vài nét về cuộc đời, văn nghiệp, quan niệm về văn chƣơng nghệ thuật ; vị trí tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác Trịnh Quang Thành. 8 Chƣơng 2: Đặc điểm tiểu thuyết Trịnh Quang Thành nhìn từ phƣơng thức xây dựng nhân vật và cảm hứng nghệ thuật Đây là phần tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu hai cuốn tiểu thuyết của Trịnh Quang Thành.
Nhìn từ phƣơng diện nhân vật, cảm hứng, có thể tìm thấy nhiều đề tài khác nhau trong các sáng tác của Trịnh Quang Thành sẽ đƣợc làm rõ nhƣ: cảm hứng về đời sống, cảm hứng về con ngƣời. Đặc đặc biệt thân phận ngƣời phụ nữ trong mỗi sáng tác của ông. Đặc điểm tiểu thuyết Trịnh Quang Thành nhìn từ nghệ thuật trần thuật Trong chƣơng này, đi sâu khai thác các yếu tố chính: Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và khắc họa nội tâm nhân vật. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong xây dựng nhân vật, kết cấu; đặc biệt một lối tự sự đa giọng điệu đã tạo nên nét riêng biệt của nhà văn.
Đóng góp của luận văn - Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu và làm sáng tỏ những đặc điểm tiểu thuyết Trịnh Quang Thành đặt trong bối cảnh của tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại. - Luận văn góp phần khẳng định: + Mỗi thể loại có những cách thức kết tinh của nó và trong tiểu thuyết của mình Trịnh Quang Thành đã tạo một giọng điệu trần thuật và một cách thức tiếp cận hiện thực riêng. + Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 (trong đó có Trịnh Quang Thành) đã có những đổi mới về nghệ thuật, một phần làm nên sự đổi khác của văn xuôi Việt Nam trong một giai đoạn phát triển mới. + Luận văn cung cấp một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm, tìm hiểu về tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Quang Thành.
9 NỘI DUNG Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT VÀ NHÀ VĂN TRỊNH QUANG THÀNH 1. Khái quát chung về thể loại tiểu thuyết 1. Khái niệm tiểu thuyết Khi nhận định về tiểu thuyết Bakhtin khẳng định: “Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử và thế giới vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất.
Do đó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn hiện thực. Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu biến đổi”[6, 25]. Nói một cách ngắn gọn, nhƣ nhận định của Bakhtin thì tiểu thuyết là một thể loại năng động, thích ứng và phổ biến của từng thời đại, trong từng giai đoạn lịch sử. Ở Việt Nam, trong công trình “Bàn về tiểu thuyết” của Phạm Quỳnh in trên tạp chí Nam Phong năm 1921.
Phạm Quỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn xuôi, đặt ra để tả người, phong tục xã hội hay những sự tích lạ đủ làm người đọc có hứng thú”[55, 42]. “Từ điển thuật ngữ văn học” do nhiều tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi khẳng định: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mòi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[21, 328]. Trong bài viết Tiểu luận và phê bình: “Tiểu thuyết trong quan niệm của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975” đƣợc đăng ngày 10 30/12/2009 tác giả Trần Hoài Anh đã đƣa ra những nội dung xây dựng tác phẩm tiểu thuyết nhƣ sau: Nguyễn Văn Trung khẳng định: yếu tính của tiểu thuyết là cái tƣởng tƣợng, không thể kiểm chứng đƣợc.
Còn Duyên Anh: Tiểu thuyết mà thiếu tƣởng tuợng không phải là tiểu thuyết. Và bắt buộc, nó khó lòng thoát lên cao. Nó chỉ là đất trên mặt cỏ. Với Võ Phiến: tiểu thuyết là công trình giả tƣởng.
Màu trời, sắc nắng, cây, lá, gió, trăng, mọi hoạt động trong đó đều bịa đặt”. Và theo Trần Văn Nam: Tiểu thuyết là truyện bịa đặt y nhƣ sự thật. Cho dù có những nhận diện khác nhau. Nhƣng các tác giả đều thống nhất cho rằng yếu tính của tiểu thuyết là tƣởng tƣợng, hƣ cấu nhƣng dù là tƣởng tƣợng, hƣ cấu thì tiểu thuyết cũng phải tái tạo cuộc sống, phải mang hình bóng của cuộc đời.
Thoát ly cuộc đời, tiểu thuyết sẽ không còn là tiểu thuyết, sẽ đánh mất giá trị nhân bản; sẽ không thể sống trong lòng ngƣời đọc. Những đặc điểm chính của tiểu thuyết Các nhà nghiên cứu cho rằng: “Tiểu thuyết không đơn thuần là một thể loại trong nhiều thể loại. Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất và chúng chỉ thích nghi- khá hơn hoặc kém hơn với những điều kiện sinh tồn của nó”[67, 20].Vì thế nó có những đặc điểm sau: Một là, tiểu thuyết phản ánh cuộc sống từ góc độ riêng tƣ. Theo nhà nghiên cứu Sirerin, là: “Tiểu thuyết mà từ trong tới ngoài vượt khỏi các khung của nó, trong đó đời tư con người thấm nhuần lịch sử và triết học lịch sử, con người được thể hiện như một phần tử sống động của nhân dân mình.
Tiểu thuyết sử thi nắm bắt những đổi thay của các thời kỳ lịch sử, sự tiếp nối của các thế hệ, nó hướng tới các số phận tương lai của nhân dân hay giai cấp”. Một số nhân vật nhƣ: Anđrây, Natasa trong Sông Đông êm đềm của Sô- Lô- 11 Khốp, là Tƣ, Ngà (Miền hoang tưởng- Nguyễn Xuân Khánh)… “Cuối cùng trong tiểu thuyết con người được giao cho tính chủ động về tư tưởng về ngôn ngữ, tính chủ động này sẽ làm biến đổi tính chất của hình tượng con người”[67, 22]. Hai là, tiểu thuyết đƣơng đại tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tƣởng hóa nhƣ Tấn trò đời của Banzac, Tội ác và trừng phạt của Đôx- tôi- ep- xki…ở Việt Nam tiêu biểu Vũ Trọng Phung, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan thế hệ nói tiếp là Lê Lựu, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Khắc Trƣờng, Nguyễn Bình Phƣơng… Chính vì vậy tiểu thuyết không bị giới hạn nào đó trong nội dung phản ánh. Ba là, nhân vật là “con người nếm trải”.
Với bao suy nghĩ, đau khổ, bất an, hạnh phúc trong cuộc đời “con người trong con người”[7, 42]. Nhân vật trong tiểu thuyết “Còn là một phương thức cốt yếu để tồn tại của con người, để giữ cho con người còn là con người toàn vẹn, kiên trì bảo vệ chất người cho con người trong thời hiện đại, cái thời kì kì lạ vừa phát hiện ra con người, tôn vinh con người là cơ sở của tất cả, vừa đẩy con người dấn sâu vào sự tha hóa”[67, 36]. Những nhà văn thành công khi xay dựng những điển hình nhân vật trong tác phẩm của mình nhƣ: Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Thiệp, Trịnh Xuân Khánh, Nguyễn Văn Thọ, Đoàn Minh Phƣợng, Nguyễn Bình Phƣơng…. Bốn là, trong tiểu thuyết tác giả và nhân vật khoảng cách có dự thay đổi.
Qua đó nhà văn có cái nhìn bao quát và thực tế hơn khi khám phá thế giới nhân vật: “Chính điều này đã tạo ra một khu vực hoàn toàn mới của việc xây dựng hình tượng tiểu thuyết- khu vực tiếp xúc gần gũi tối đa giữa đối tượng miêu tả với thực tại dang dở hôm nay và vì thế mà cả tương lai”[6, 69]. Cuộc sống trong tiểu thuyết là một cái gì đó chƣa xong xuôi. Kết cấu của tiểu thuyết cũng thƣờng là kết cấu để ngỏ. 12 Thứ năm, dung lƣợng của tiểu thuyết lớn p có khả năng tổng hợp nhiều loại hình nghệ thuật nhƣ hội họa, âm nhạc kết hợp với các bộ môn khoa học nhƣ tâm lý học, đạo đức học, lịch sử khoa học viễn tƣởng… “Tiểu thuyết cho phép đưa vào lắp ghép vào trong nó nhiều thể loại khác nhau, cả những thể loại nghệ thuật( những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, những màn kịch nói,…) lẫn những thể loại phi nghệ thuật (văn hùng biện, khoa học và tôn giáo)”[7, 146].
Theo Bakhtin, tiểu thuyết là “thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi”[7, 7]. Chính khả năng tổng hợp này mà nó đang biến động cho dù đề tài và chất liệu có thể lấy từ quá khứ. Mặt khác Bakhtin cũng cho rằng: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang chuyển biến và chưa định hình. Những lực lượng cấu thành thể loại này còn đang hoạt động trước mắt chúng ta, thể loại tiểu thuyết ra đời và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử.
Nòng cốt của thể loại tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được khả năng uyển chuyển của nó”[7, 21]. Những khuynh hướng tiểu thuyết trong văn xuôi đương đại Việt Nam Các khuynh hƣớng của tiểu thuyết chỉ trở thành thể loại khi nó có một hệ thống lý luận đi kèm về mặt thể loại. Có hai nguyên nhân chính đã tác động đến sự khuynh hƣớng tiểu thuyết là: Thứ nhất, do sự tác động của chuyển biến trong xã hội. Tất cả biến chuyển trong đời sống mà con ngƣời luôn muốn bảo lƣu, tồn tại hai mặt trong một cá thể: Phía ngoài là những lo toan của bộn bề cuộc sống, sự vô cảm trong suy nghĩ; bên trong là một thế giới hỗn loạn và phức tạp, vô định.
Tiểu thuyết đã nắm bắt đƣợc cái hỗn loạn ấy và tìm cách giãi bày nó trên trang giấy theo đúng bản chất của nó. Mỗi khuynh hƣớng tâm lý sẽ dẫ đến sự ra đời của một khuynh hƣớng tiểu thuyết. 13 Thứ hai, sự đa dạng của khuynh hƣớng tiểu thuyết là do sự tiếp cận không đồng đều không thuần nhất các phƣơng pháp sáng tác mới từ văn học thế giới. Sự tiếp cận này chủ yếu là tự phát theo con đƣờng cá nhân nên nảy sinh nhiều kiểu sáng tác khác nhau và chúng tồn tại ngắn ngủi.
Tiểu thuyết trên thế giới là một thể loại ra đời sớm, nhƣng ở Việt Nam thì tiểu thuyết lại muộn so với các thể loại khác.