CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm liên quan “Giá trị”, theo Từ điển Tiếng Việt giải thích, về mặt từ loại là danh từ, bao gồm các nghĩa: một là, cái làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa, đáng quý về một mặt nào đó; hai là, (kết hợp hạn chế) tác dụng, hiệu lực; ba là, sự kết tinh trong quá trình lao động xã hội (Hoàng Phê, 2018, tr. “Giá trị hiện thực” là phạm vi hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh. Tác phẩm văn học có giá trị hiện thực vì bắt nguồn từ cuộc sống. Tác phẩm văn học thể hiện hiện thực đời sống sinh hoạt hàng ngày, hiện thực tình cảm, tâm lí… Hiện thực phản ánh trong tác phẩm vô cùng đa dạng và phong phú.
Giá trị hiện thực trong một tác phẩm văn học thường có 3 nét chính: (1) phơi bày chân thực, sâu sắc cuộc sống cơ cực, nỗi khổ về vật chất hay tinh thần của những con người bé nhỏ, bất hạnh; (2) chỉ ra nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người; (3) miêu tả tinh tế vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người. “Văn hoá”, theo Từ điển tiếng Việt giải thích, về mặt từ loại, từ “văn hoá” là danh từ, với các nghĩa: một là, tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; hai là, những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát); ba là, tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); bốn là, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; năm là (từ chuyên môn), nền văn hoá của một thời kỳ cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể của di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Hoàng Phê, 2018, tr. Ý nghĩa thứ nhất thì chúng ta có thể hiểu nghĩa rộng, “văn hoá” là tất cả những gì mà con người sáng tạo ra. Nghĩa thứ hai, ba, và bốn là nghĩa hẹp của “văn hoá”, là những giá trị tinh hoa con người hình thành trong quá trình sinh hoạt đời sống như nếp sống, hoạt động nghệ thuật… Như vậy, “văn hoá” là sản phẩm của xã hội con người có những giá trị riêng.
Trong quá trình phát triển của xã hội, tuỳ theo tính mục đích, chúng ta có thể phân chia giá trị của văn hoá thành giá trị cụ thể và giá trị phi cụ thể. Và nếu xét theo bình diện thời gian và lịch sử phát triển của xã hội loài người thì chúng ta có thể chia giá trị văn 14 hoá thành giá trị bền vững (cố định) và giá trị không bền vững (tồn tại nhất thời). Một trong những giá trị bền vững của văn hoá là khả năng kết nối con người với con người, xã hội với xã hội. Vì văn hoá được hình thành, tích luỹ qua nhiều thế hệ khác nhau, nên văn hóa ở mỗi một đất nước, mỗi một vùng miền… đều tạo nên cho mình một bề dày sâu rộng.
Văn hoá truyền thống được lưu truyền qua nề nếp giáo dục. Văn hoá chỉ tồn tại bền vững với đời sống xã hội con người khi con người được giáo dục. Điều này cho thấy tầm quan trọng của văn hoá trong việc định hình nhân cách, ý thức và nhận thức của con người trong đời sống xã hội. Nhận thức của con người luôn thay đổi cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội.
Từ sự thay đổi đó, con người hiện đại cần suy nghiệm lại những giá trị văn hoá, để kế thừa, tiếp bước xây dựng một đời sống sinh hoạt cá nhân và cộng đồng bền vững. Để làm được đều đó, con người cần có sự nhận thức đúng đắn về bối cảnh lịch sử xã hội, chuẩn mực xã hội, hoàn cảnh sống, trình độ giáo dục, tri thức về nghệ thuật, khả năng thích ứng cuộc sống… “Văn hoá nhận thức” là sản phẩm của tư duy trí tuệ con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội. Trong môi trường tự nhiên con người nhận thức về vũ trụ, bao gồm không gian vũ trụ và thời gian vũ trụ(Trần Ngọc Thêm, 1999). Để tiệm cận hơn với nội dung chính cần nghiên cứu, chúng tôi phân tích “văn hoá nhận thức” trong tương tác với môi trường xã hội, bao gồm nhận thức về con người tự nhiên và con người xã hội, từ đó hiểu được ứng xử của con người đối với môi trường xã hội thông qua văn hoá tổ chức đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng.
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu là phụ nữ Hàn Quốc, chúng tôi vận dụng khái niệm về “giới tính” và “bản dạng giới” dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu phương Tây. Có hai khái niệm chúng ta cần phân biệt rõ về “Giới”, đó là giới (gender) và giới tính (sex). Cả hai đều có những đặc trưng cơ bản riêng. Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào điều 5 của Luật bình đẳng giới năm 2006: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học nam và nữ; Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.” 15 Vậy, “giới tính” được đề cập đến phạm vi các đặc điểm liên quan đến giới tính nam, giới tính nữ (về phương diện sinh học được có sẵn khi sinh ra), còn “giới” theo một thuật ngữ xã hội học, nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm phân chia lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích (Lê Thị Quý, 2010, tr.
Khái niệm “giới” là một phát minh mới trong lịch sử loài người. Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thời cổ đại chưa xây dựng đủ cơ sở để hiểu về “giới” trong phạm vi xã hội học. Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, “giới” gắn liền với các phạm trù ngữ pháp, chỉ đến những năm 1950 và 1960 nó mới bắt đầu trở thành một cấu trúc văn hóa. Trước khi Nhà tính dục học John Money và các đồng nghiệp của ông sử dụng “giới tính sinh học” và “giới tính” như một thuật ngữ phân biệt vào năm 1955, thuật ngữ “giới” không được dùng để chỉ bất cứ điều gì bên ngoài phạm trù ngữ pháp.
Ví dụ, trong mười hai nghìn tư liệu tham khảo về hôn nhân và gia đình từ năm 1900 đến năm 1964, thuật ngữ “giới” không được xuất hiện dù chỉ một lần. Thế nhưng sau đó, “giới” dần dần được sử dụng nhiều hơn “giới tính” trong khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn. Chính trong những năm 1970, các học giả nữ quyền đã sử dụng thuật ngữ “giới” để phân biệt giữa khía cạnh “xây dựng xã hội” (gender) và khía cạnh “bản sắc sinh học” (sex). (“Giới tính xã hội”, n.) “Bản dạng giới” (gender identity) được hình thành từ những yếu tố về văn hoá, xã hội và môi trường sống.
Nó đại diện cho những suy nghĩ bên trong một người về giới tính của chính họ, là cách nhận thức bản thân và muốn được người khác xưng hô thế nào. “Bản dạng giới” cũng có thể khác với “cách thể hiện giới” (gender expression) – cách thể hiện “bản dạng giới” với xung quanh. “Cách thể hiện giới” thường bao gồm ngoại hình và hành vi bên ngoài, chẳng hạn như cách ăn mặc, trang điểm, kiểu tóc, ngôn ngữ cơ thể, giọng nói và tên gọi (Diệu Linh, 2020). Việc phân chia nam giới và nữ giới thành các vai trò xã hội là một vấn đề đối với một số người.
Sự khác biệt sinh học giữa nam giới và nữ giới tạo ra một tập hợp các kỳ vọng xã hội, xác định các thực hành khác nhau của họ về quyền, nguồn lực, quyền lực xã hội và hành vi lành mạnh. Ở các xã hội khác nhau bản chất và đặc thù của những khác biệt này cũng sẽ khác nhau. Nhưng điểm chung là có lợi cho nam giới dẫn đến mất cân bằng quyền lực, bất bình đẳng giới trong hầu hết các xã hội. Vai trò 16 xã hội giữa nam và nữ dựa trên các chuẩn mực văn hóa của xã hội dẫn đến sự ra đời của hệ thống giới.
Trong nhiều xã hội, hệ thống giới là nền tảng của hình thái xã hội, bao gồm phân biệt giới tính và quyền tối cao của nam giới. Như vậy, có thể nói “giới” được hình thành thông qua một quá trình tiếp nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội. “Giới” thể hiện qua vai trò, vị trí của nam giới, nữ giới trong xã hội. Vai trò và vị trí của “giới” có liên quan đến đặc điểm giới tính và năng lực có được trong quá trình hấp thụ giáo dục từ gia đình và xã hội.
Do đó, “giới” khá đa dạng, có tính đồng dị biệt giữa các quốc gia với nền văn hoá khác nhau. Để nghiên cứu hình ảnh đặc trưng của nữ giới (người phụ nữ), với những thiên chức của họ, thì nền tảng cơ bản đầu tiên là hiểu rõ giới, sau là nam giới (người đàn ông) – đối tượng đối trọng trong một bối cảnh văn hoá xã hội nhất định, trong nội dung luận văn là văn hoá hiện đại Hàn Quốc. Lý thuyết về chức năng giới Theo Emile Durkheim2, chức năng giới được quy định một cách tự nhiên – sinh học, “bẩm sinh”, “vốn có”. Nam giới được gán cho chức năng chuyên môn (công cụ, nghề nghiệp) để tạo ra của cải vật chất còn phụ nữ có chức năng biểu đạt (văn hoá, tình cảm) để tạo ra của cải, tinh thần.
Vì vậy, phân công lao động trong xã hội phải tôn trọng và tuân theo sự hợp lý của tự nhiên, nếu khác đi là có “vấn đề”, là không bình thường (Lê Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2000, tr. Lý thuyết này, được cho là cần thiết, “hợp lý” bất chấp sự khác biệt dẫn đến việc bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới về lao động, việc làm, địa vị xã hội… Năm 1949, Simone de Beauvoir xuất bản tác phẩm Giới tính thứ hai vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới. Trong tác phẩm Simone de Beauvoir đưa ra luận thuyết rằng “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ.”3 (Simone de Beauvoir, 2010, tr. Simone de Beauvoir nhận xét: xưa nay phụ nữ bị coi là người “thuộc một giống khác” với đàn ông, nói cách khác, là loại người “thứ yếu” bên cạnh loại người “chủ yếu”.
Quan điểm này là kết quả do hoàn cảnh lịch sử và xã 2 Nhà xã hội học người Pháp (15/4/1858 – 15/11/1917) 3 “On ne naît pas femme, on le deviant.” (Tiếng Pháp) “One is not born, but rather becomes, woman.” (Tiếng Anh) 17 hội tạo ra chứ không có liên quan gì tới thiên tính của giới nữ.