mở đầu, đắp nền cho văn học mới vừa là bước chuyển tiếp của lịch sử ghi nhận nhiều thay đổi triệt để và sâu sắc, từ quan niệm nghệ thuật cho tới thực tế sáng tác. Vượt qua những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh chiến tranh, văn học chín năm kháng chiến chống Pháp đã khẳng định sự tồn tại và phát triển với tầm vóc xứng đáng. Tuy những thành tựu còn ở mức độ ban đầu nhưng đóng góp chính của nó là mang đến một sắc thái độc đáo, làm bừng lên khí thế mới chưa từng có trong đời sống văn học dân tộc và đặt được nền móng vững chắc, đảm bảo sự phát triển rực rỡ của văn học cách mạng những năm về sau. Để khi bước sang thời kỳ chống Mỹ cứu nước, giai đoạn những năm 1960 - 1975, chúng ta không còn bỡ ngỡ, lúng túng nữa.
Những bài học của cuộc kháng chiến chống Pháp đã giúp chúng ta 8 rất nhiều. Hơn thế nữa từ sau 1954 đến 1975, chúng ta đã có một miền Bắc xã hội chủ nghĩa, một hậu phương lớn để vừa xây dựng, vừa chiến đấu, không ngừng tạo ra những lực lượng văn học mới bổ sung cho tiền tuyến. Bởi vậy, văn xuôi giai đoạn này đã khái quát được trọn vẹn bộ mặt cuộc sống đó là: tiền tuyến lớn và tầm vóc mới của cuộc chiến đấu. Cuộc kháng chiến chống Mỹ trên cả hai miền từ tháng 8 năm 1964 khi đế quốc Mỹ đem bom đánh phá miền Bắc, đã đem lại một chuyển biến mạnh mẽ trong sáng tác, mà biểu hiện nổi bật là sự tập trung thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân trong chiến đấu và sản xuất, nhằm bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà.
Tính từ thời điểm lịch sử đó, có thể nói hầu hết các nhà văn đều hướng ngòi bút của mình, bằng tinh thần hoàn toàn tự nguyện, không có chút băn khoăn, ngần ngại nào. Tất cả là vì tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”như lời Hồ chủ tịch đã dạy, vốn là một lẽ sống, một ý thức thường trực trong lòng mỗi người dân Việt Nam yêu nước. Đặt trong bối cảnh lịch sử hiện tại khi nhân dân ta ở miền Nam sau bao năm dưới ách kìm kẹp của Mỹ - Ngụy đã vươn mình lên trong một cuộc Đồng khởi vĩ đại năm 1960; và giờ đây thừa thắng xông lên vững vàng bước vào một giai đoạn thử thách mới, khi quân Mỹ cùng với quân đồng minh đang ngày đêm giày xéo trên mảnh đất quê hương. Cả nước đứng lên đối mặt với quân thù và những chiến công vang dột đầu tiên của quân và dân miền Nam với Bình Giã, Ba Gia, Ấp Bắc, Vạn Tường…và liên tiếp tin vui từ miền Bắc báo về từ Hồng Gai, Lạch Trường, Vĩnh Linh, Cồn Cỏ,… đã chứng minh một cách rực rỡ cho sức mạnh vô địch của tình yêu đất nước và niềm tin vào chủ nghĩa xã hội.
Tình yêu lớn đối với Tổ quốc trở thành chủ đề, nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tạo, trở thành máu thịt trong mọi tác phẩm. Vốn đã là một chủ đề quen thuộc, trở thành mảng đậm trong văn học hiện đại, nhưng đến lúc này bỗng hiện lên như một nội dung nổi bật, vì sức dồn tụ của nó, và vì sự ngân lên ở một cung bậc cao hơn.Tổ quốc - giờ đây, sau Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp, dòng sông Bến Hải mặc định trở thành ranh giới chia cắt đất nước,một nửa là miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, một nửa là miền Nam đang chiến đấu chống 9 đế quốc Mỹ xâm lược. Nỗi nhớ miền Nam, nỗi đau đất nước bị chia cắt trong lòng mỗi người dân Việt Nam vốn cùng chung một gốc, không lúc nào không nung nấu suốt từ năm 1954 cho đến lúc này. Đó là tình yêu, là mơ ước Tổ quốc - thống nhất, một Tổ quốc liền một dải từ Lạng Sơn đến Minh Hải.
Sự gắn bó giữa hai miền và tình cảm Bắc Nam ruột thịt đã từng là chủ đề nổi bật trong nhiều sáng tác về đề tài kháng chiến chống Pháp trước đây như Một truyện chép ở bệnh viện (1959) của Bùi Đức Ái; Hoa hướng dương (1960) của Đoàn Giỏi; bên cạnh đó, đáng chú ý là hình ảnh những người con miền Nam trên đất Bắc đang quyết tâm góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất nước nhà, với những sáng tác trong hai tập Trăng sáng(1960)và Đôi bạn (1962) của Nguyễn Ngọc Tấn; hay trong Rẻo cao (1961) của Nguyên Ngọc… Nếu “miền Nam trong lòng miền Bắc” đã là một chủ đề sâu đậm trong văn xuôi những năm 60, thì “miền Bắc trong lòng miền Nam” cũng trở thành một nguồn sáng trong biết bao trang viết của nhân dân, của cán bộ miền Nam những ngày nước sôi lửa bỏng, những ngày diễn ra biết bao vụ thảm sát tố cộng, diệt cộng, những ngày luật 10- 59 và máy chém của Mỹ - Diệm kéo lê khắp nơi đàn áp đẫm máu những người yêu nước kháng chiến, những người mong muốn đất nước thống nhất.Quên sao được những trang thư, hồi ký Từ tuyến đầu tổ quốc(1963) của nhiều tác giả mà ở đó tình cảm riêng tư cá nhân lại gắn rất chặt với tình yêu Tổ quốc, trở thành tình cảm chung của quần chúng cách mạng.Những ngày tháng sau này, đế quốc Mỹ với tham vọng của mình đã mở rộng chiến tranh trên phạm vi cả nước, chúng cho ném bom Hồng Gai, Lạch Trường, Vĩnh Linh, Cồn Cỏ…Cũng từ đây một loạt bút ký, phóng sự, ghi chép xuất hiện đã kịp thời thông báo tin vui chiến thắng dồn dập của nhân dân ta, như Nguyễn Khải với Họ sống và chiến đấu (1965); Tuyến lửa (1966) của nhiều tác giả hay Chúng tôi ở Cồn Cỏ (1966) –Hồ Phương…Đây không chỉ đơn thuần là những chiến công, hơn nữa còn là khuôn mặt chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Bộ mặt đất nước với những con sông, những nhịp cầu, những bến phà và cả bầu trời, mặt biển…đi vào văn xuôi rất tự nhiên và dường như mọi vẻ đẹp vốn có của nó lại một lần nữa được người viết phát hiện, dù trong mưa bom bão đạn thì vẫn cứ đắm say lòng người. 10 Cùng với mốc lịch sử năm 1965, đánh dấu thời kỳ cả nước chống Mỹ, hơn bất cứ giai đoạn nào trước đây, văn xuôi đã kịp thời ghi lại khá rõ những dấu ấn của cuộc sống, của thời đại. Nếu văn xuôi miền Bắc, dấu ấn đó là chất chơ, chất trữ tình nồng đậm, ngân lên từ tình yêu Tổ quốc, với hình ảnh đất nước - con người chưa bao giờ gắn bó với nhau tha thiết đến thế trong một cuộc ra trận lớn lao, thì văn xuôi cách mạng miền Nam đó là một cơn phẫn nộ lớn, một tiếng thét căm thù vang dội, vút lên từ trong bóng đêm tăm tối của một chế độ tàn bạo, từ trong sự kìm kẹp dã man đến tột cùng của kẻ thù, để ngay sau đó là niềm vui, niềm hạnh phúc vô giá khi con người được cầm súng đi chiến đấu.
Đó còn là niềm vui được giải phóng, là niềm tin vào miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà từ lâu đã trở thành niềm hy vọng, là ước nguyện tương lai của miền Nam đi trước về sau. Cả một chặng đường dài, chúng ta dần được chứng kiến sự triển khai của văn xuôi trên tiền tuyến lớn theo hai hướng. Trước hết đó là sự mở rộng nhanh chóng phạm vi miêu tả để trong một thời gian ngắn, văn xuôi có thể nhanh chóng bám được vào những vùng đất nóng bỏng các chiến công và sự tích anh hùng. Đồng thời gắn bó với quá trình mở rộng phạm vi miêu tả đó là quá trình nâng cao dần sức khái quát, khả năng đúc kết, để từ những phác thảo, những ghi chép, những quan sát riêng lẻ, bộ phận, tiến lên xây dựng những bức tranh lớn, nắm bắt được đặc sắc riêng của cuộc chiến đấu từng vùng, đánh dấu những chuyển biến lớn trên mỗi giai đoạn.
Chưa bao giờ, hình ảnh cuộc sống lại thâm nhập vào văn xuôi với đầy đủ những đường nét nổi rõ như vậy.Đó là một cuộc chiến tranh với rất nhiều hy sinh, văn xuôi cũng không hề giấu giếm điều đó.Mô tả cuộc chiến đấu dữ dội của dân tộc, không chỉ có những hy sinh mất mát, văn xuôi còn đề cập đến bộ mặt của kẻ thù. Qua đó khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong thời đại đánh Mỹ, đặc biệt là hình ảnh con người trong sự đối mặt với mọi loại kẻ thù. Nếu chủ nghĩa anh hùng cách mạng là một trong những chủ đề lớn xuyên suốt trong văn xuôi những năm kháng chiến chống Mỹ, thì chiến đấu và sản xuất - Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là nền tảng, cơ sở của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đây cũng là một phần của bộ mặt cuộc sống được văn xuôi phản ánh. Mặc dù chiến tranh diễn ra trên cả nước, nhưng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn đang tiếp tục từng ngày, từng giờ và trên cơ sở nhận thức miền Bắc là hậu phương lớn, là căn cứ địa của cả nước 11 thì càng phải được xây dựng vững mạnh hơn bất cứ bao giờ.
Nắm vững phương châm vừa sản xuất vừa chiến đấu, sự gắn bó khăng khít giữa tình yêu đất nước và tình yêu chủ nghĩa xã hội chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh dù trong bom đạn vẫn giữ được niềm tin, ý chí vững vàng để đi đến thắng lợi cuối cùng. Đây cũng là nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra cho văn xuôi giai đoạn này là phải làm sáng tỏ được hiện thực miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đâu chỉ có những chiến công của những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu nơi tuyến lửa, nơi trận địa, ở một bến phà hay một nhịp cầu nào đó…Mà ở đây, phạm vi mô tả được mở rộng để kịp thời phản ánh và ca ngợi nồng nhiệt những chiến công của nhân dân trên khắp các vùng quê, ở mọi thời điểm. Anh hùng không chỉ xuất hiện trong đấu tranh, trong cuộc đọ súng hay phút giáp mặt với kẻ thù mà trong cuộc sống đời thường chúng ta vẫn bắt gặp, đâu chỉ có một Tạ Thị Kiều từ vùng đất nóng bỏng Bến Tre, để sau đó lại có biết bao nhiêu Tạ Thị Kiều khác từ một góc phố, một vườn hoa.