CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT CỦA CỔ VIÊN (TẠ DUY ANH) 1. Khái lược tiểu thuyết đương đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XXI đến nay Từ khi được nhìn nhận như một thể loại hoàn chỉnh, tiểu thuyết từng bước phát triển và trở thành thể loại trung tâm của đời sống văn học bởi khả năng hàm chứa một bức tranh rộng lớn về cuộc sống, con người. Nhà phê bình Bakhtin từng nhận xét: “Nghiên cứu các thể loại khác tựa hồ như những tử ngữ, còn nghiên cứu tiểu thuyết giống như nghiên cứu những sinh ngữ, mà lại là sinh ngữ trẻ” [15, tr. Hiện nay, tuy văn học đương đại chứng kiến sự giao thoa, dung hợp giữa các thể loại, tiểu thuyết vẫn giữ được vị trí chủ soái, ảnh hưởng đến các thể loại khác, khiến chúng trở nên “tiểu thuyết hóa”.
Ngược lại, bằng sự linh hoạt của mình, tiểu thuyết có thể dung nạp đặc điểm của nhiều thể loại, giúp nó vượt qua những rào cản rập khuôn, phục vụ cho các mục đích khác nhau của văn chương. Bức tranh chung về tiểu thuyết đương đại Việt Nam Năm 2000 là cột mốc tác động đến tâm thế toàn xã hội Việt Nam khi đất nước bước sang thiên niên kỉ mới. Xét trên bình diện lịch sử văn học, thời điểm này chưa phải là bước ngoặt đặc biệt gắn với sự chuyển mình của văn chương dân tộc; song, năm 2000 có thể được xem là cột mốc đánh dấu chặng đường phát triển ấn tượng của tiểu thuyết đương đại. Làn sóng tiểu thuyết dấy lên mạnh mẽ trong bối cảnh đất nước chịu sự tác động của khoa học công nghệ, các nhà tiểu thuyết có ý thức cao trong việc hội nhập quốc tế.
Tiểu thuyết xác lập vị thế chủ chốt trong đời sống thể loại bằng những tác phẩm mang “hơi thở thời đại”; đồng thời, đây cũng là giai đoạn văn đàn chứng kiến sự ra đời của hàng loạt tiểu thuyết với tinh thần cách tân thi pháp mạnh bạo mà sự xuất hiện yếu tố hậu hiện đại là nòng cốt cho sự cách tân này. Để khái quát bức tranh chung về tiểu thuyết đương đại Việt Nam thế kỉ XXI, chúng tôi tập trung khai thác ở ba nội dung tiêu biểu: thứ nhất là lực lượng sáng tác, thứ hai là quan niệm viết tiểu thuyết, cuối cùng là kĩ thuật tự sự. Lực lượng sáng tác Điểm nổi bật đầu tiên khi nhìn vào bức tranh tiểu thuyết đương đại Việt Nam là lực lượng sáng tác. Đội ngũ tiểu thuyết gia nòng cốt của ba thập kỉ cuối thế kỉ XX như Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Trung Trung 11 Đỉnh,… sang thế kỉ XXI có vẻ trầm lặng hơn rất nhiều.
Có thể do gánh nặng tuổi tác, thế hệ các nhà văn này đành nhường “sân chơi” cho lớp tác giả trẻ. Bên cạnh đó, một số nhà văn có tên tuổi của thế kỉ trước, sang thế kỉ XXI, họ vẫn giữ được phong độ như ngày nào, Chu Lai và Nguyễn Xuân Khánh là hai ví dụ điển hình nhất. Chu Lai tiếp tục chứng minh sự sung sức của mình qua hàng loạt các tiểu thuyết: Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Chỉ còn một lần (2006), Hùng Karo (2010), Mưa đỏ (2016). Nổi bật hơn cả trong thế hệ “lão làng” là Nguyễn Xuân Khánh.
Bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) và Đội gạo lên chùa (2011) khẳng định sự sáng tạo dồi dào của nhà văn cao niên. Lấy cảm hứng lịch sử và văn hóa dân tộc làm cơ sở sáng tác, trên tinh thần nhận thức lại, bộ ba tiểu thuyết mang đến bạn đọc cảm giác mới lạ và sự hứng thú nhất định. Song song đó, văn đàn thế kỉ XXI cũng chứng kiến sự trưởng thành của nhiều cây bút trung niên – những nhà văn xuất hiện trước năm 2000, đa phần thuộc thế hệ cuối 5X và thế hệ 6X, 7X, đã và đang vào độ chín của nghề. Một số cây bút có thể kể đến như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Ngọc Tư, Vũ Đình Giang,… Với nhiều tác phẩm giá trị, để lại dấu ấn nghệ thuật đậm nét, 6X, 7X xứng đáng là thế hệ đại diện cho bộ mặt văn học Việt Nam đương đại trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI.
Đóng góp lớn nhất của thế hệ nhà văn cuối 5X và 6X, 7X là sự nỗ lực đổi mới tư duy nghệ thuật, tạo nên làn sóng cách tân dữ dội, mạnh mẽ và không kém sự “ồn ào”. Tiếp nối tinh thần đổi mới từ Đại hội VI, những nhà văn thế kỉ XXI đem đến văn học nước nhà một diện mạo mới với sự kết hợp giữa hệ hình văn học hiện đại và hậu hiện đại. Một số tác phẩm tiêu biểu như: Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Mối chúa, Đất mồ côi (Tạ Duy Anh); Trí nhớ suy tàn, Thoạt kì thủy, Ngồi, Một ví dụ xoàng (Nguyễn Bình Phương); Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, Đức Phật, nàng Savitri và tôi (Hồ Anh Thái); Khải huyền muộn, Ba ngôi của người (Nguyễn Việt Hà);… Với những bước đi đầu tiên, sự thay đổi hệ hình tiểu thuyết sang xu hướng hậu hiện đại gây không ít tranh cãi trong bộ phận công chúng yêu văn chương bởi sự lệch pha trong tư duy cảm thụ thẩm mĩ. Sự lệch pha đến nay vẫn còn tồn tại; tuy nhiên, lối viết hậu hiện đại đã được phần đông độc giả ghi nhận tích cực, đặc biệt là những độc giả có sự thay đổi trong tư duy tiếp cận tác phẩm.
Góp phần cho sự sôi động của văn đàn thế kỉ XXI, thế hệ 6X, 7X đón nhận sự xuất hiện của bộ phận nhà văn hải ngoại. Tuy sống ở nước ngoài nhưng các nhà văn luôn 12 đau đáu hướng về quê hương. Họ sáng tác nhiều đề tài khác nhau, song tha hương là đề tài thu hút và hợp cảnh nhất đối với những đứa con xa quê. Một vài tiểu thuyết được chọn in tại Việt Nam, tuy số lượng không nhiều song đây là tín hiệu đáng mừng cho sự giao thoa, hội nhập của bộ phận văn học hải ngoại vào đời sống văn học trong nước.
Trong số các nhà văn hải ngoại sử dụng tiếng Việt để sáng tác, nổi bật nhất là Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Tiếng Kiều đồng vọng) và Thuận (Chinatown, Paris 11 tháng 8, T mất tích). Trong thế hệ các nhà văn 5X, 6X, Nguyễn Nhật Ánh là một hiện tượng khá đặc biệt. Ông chuyên sáng tác truyện dài (có thể xem là một dạng tiểu thuyết ngắn). Nhiều tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh được chuyển thể thành phim và được đông đảo công chúng đón nhận như: Kính vạn hoa, Nữ sinh, Mắt biếc, Cô gái đến từ hôm qua, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh,… Sự đặc biệt của Nguyễn Nhật Ánh là ông không có sự cách tân mạnh mẽ trong nghệ thuật viết tiểu thuyết như các văn nhân cùng thời.
Tuy nhiên suốt mấy mươi năm qua, Anh Bồ Câu đa tài vẫn có khoảng sân rộng rãi tung hoành. Với văn phong trong sáng, nhẹ nhàng, dồi dào chất thơ và đậm tính nhân văn, các tiểu thuyết của Nguyễn Nhật Ánh được đông đảo bạn đọc nhiều thế hệ từ trẻ con đến thanh thiếu niên lẫn người lớn tiếp nhận và đánh giá cao. Từ lúc vào nghề đến nay, cây bút của mọi lứa tuổi này vẫn tỏ ra sung sức bằng việc đều tay sáng tác. Năm 2022, bộ đôi tiểu thuyết Ra bờ suối ngắm hoa kèn hồng và Những người hàng xóm của Nguyễn Nhật Ánh thành công “chào sân”.
Năm 2023, nhà văn đã gần bước sang độ tuổi trung thọ, song tiểu thuyết Mùa hè không tên của ông cũng chỉ vừa ráo mực ít lâu. Trong các nhà văn đang ở độ tuổi cao niên, tính đến thời điểm hiện tại, bên cạnh Nguyễn Nhật Ánh, Tạ Duy Anh và Hồ Anh Thái có lẽ là hai nhà tiểu thuyết tiêu biểu nhất giữ được bút lực dồi dào trong sự nghiệp văn chương khi Đất mồ côi của lão Tạ vừa ra mắt cuối năm 2020, Đức Phật, nữ Chúa và điệp viên của Hồ Anh Thái cũng chỉ vừa ấn hành vào tháng 03/2022. Nổi bật trong thế hệ 7X là nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư. Cô chuyên sáng tác truyện ngắn và tản văn.
Tập truyện Cánh đồng bất tận (2005) gây tiếng vang lớn cho nền văn học Việt Nam khi tác phẩm gặp nhiều ý kiến trái chiều. Song, trên tất cả, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho Cánh đồng bất tận vào năm 2006 đã khẳng định tài năng của nữ nhà văn trẻ. Tuy nhiên, khi thử sức với thể loại tiểu thuyết, Nguyễn Ngọc Tư chưa thật sự thành công. Có lẽ cái bóng từ Cánh đồng bất tận quá lớn khiến tiểu thuyết Sông được in năm 2012 chưa đủ đột phá so với tầm mong đợi của độc giả.
Tuy nhiên, cô vẫn được bạn đọc đón nhận ở các truyện ngắn 13 và tản văn sau đó. Năm 2020, Nguyễn Ngọc Tư cho ra mắt công chúng tác phẩm Biên sử nước. Sau tám năm, kể từ ngày Sông ra đời, Nguyễn Ngọc Tư mới trở lại thể loại tiểu thuyết. Biên sử nước vẫn lấy đề tài từ miền đồng bằng sông nước nhưng được tác giả triển khai với một cách viết mới.
Tác phẩm vừa có sự quen thuộc vừa có sự lạ lẫm, nhận được đánh giá tích cực từ người đọc. Song, với Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn và tản văn có lẽ mới là thế mạnh thật sự của cô. Thế hệ 8X, 9X là thế hệ cuối cùng tính đến thời điểm hiện tại hoàn thành mảng tranh về đội ngũ viết tiểu thuyết thế kỉ XXI. Dù là những nhà văn trẻ về tuổi đời lẫn tuổi nghề nhưng nhiều cây bút tỏ ra khá “già dặn” trong lối viết.
Điều đáng ghi nhận ở thế hệ này là sự tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, dám thử nghiệm và thể nghiệm tác phẩm trên nhiều phương diện từ nội dung đến hình thức. Đặc biệt, cuộc thi Văn học tuổi 20 do NXB Trẻ, báo Tuổi Trẻ và Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức, giúp cho nền văn học Việt Nam tìm kiếm và phát hiện những cây bút đầy triển vọng.