Chương 1. Hồ Anh Thái và quan niệm nghệ thuật về con người bản năng trong một số tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. Con người bản năng được thể hiện qua một số tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. - Tài liệu tham khảo.
NỘI DUNG CHƢƠNG 1. HỒ ANH THÁI VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI BẢN NĂNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA HỒ ANH THÁI 1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội. Nguyên quán ông ở Nghệ An.
Ông theo học bậc Đại học ngành Quan hệ Quốc tế. Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia viết báo và làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu – Mỹ, sau đó là Ấn Độ, Iran. Ông là nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Ấn Độ, giảng viên giảng dạy Đại học. Hiện nay ông là Tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông, công tác tại bộ ngoại giao Việt Nam.
Bên cạnh đó, Hồ Anh Thái còn được biết đến là một nhà văn đương đại Việt Nam. Hồ Anh Thái là nhà văn thuộc thế hệ nhà văn hậu chiến, nổi lên như một hiện tượng văn chương, với giọng văn trẻ trung, tươi mới, về đời sống thanh niên, sinh viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống. Ông bắt đầu cuộc đời văn chương từ những năm 80 của thế kỉ XX. Những tác phẩm của ông có sự sáng tạo với những điểm nhìn mới mẻ, được dư luận quan tâm.
Những tác phẩm tiêu biểu như: Chàng trai ở bến đợi xe (1985), Trong sương hồng hiện ra (1990), Người và xe chạy dưới trăng (1987), Người đàn bà trên đảo (1988), … Năm 1988, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiều nước Âu – Mỹ, Hồ Anh Thái sang nghiên cứu và làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ. Đây là một bước quan trọng trên đường đời nhà văn. Hồ Anh Thái cho biết công việc đối ngoại đã tạo cho ông nhiều cơ hội được đi du ngoạn nhiều nước nhưng riêng Ấn Độ - một miền đất bí ẩn với nền văn hóa đồ sộ đã để lại cho ông nhiều ấn tượng và nguồn cảm hứng lớn. Hồ Anh Thái trở lại văn đàn với chùm truyện ngắn độc đáo, hài hước mà thâm trầm về Ấn Độ: Người đứng một chân (1995), Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998),… Từ năm 2000, ông có những tác phẩm được đánh giá cao: Cõi người rung chuông tận thế (2002), Tự sự 265 ngày (2001), Bốn lối vào nhà cười (2005), Mười lẻ một đêm (2006),… Năm 2000, ông được bầu là chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội cho đến năm 2010.
Ông cũng được bầu là ủy viên ban Chấp hành hội Nhà văn Việt Nam từ 2005 đến 2010. 6 Năm 2007, ông trở lại với đề tài Ấn Độ bằng tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học Việt Nam tái hiện chân dung đất Phật thông qua một cốt truyện hấp dẫn, một văn phong giản dị,… Với tiểu thuyết này, Hồ Anh Thái đã bước ra khỏi giọng văn giễu nhại, hài hước châm biếm của Bốn lối vào nhà cười, Tự sự 265 ngày, Mười lẻ một đêm,… Tác phẩm của Hồ Anh Thái thường mang tính triết luận, bao quát số phận của người Việt và đất nước thời hiện tại. Ông là nhà văn có phát kiến về ngôn ngữ, tạo cho tiếng Việt thêm màu sắc, đa nghĩa và khả năng biểu đạt phong phú hơn.
Các tác phẩm tiêu biểu như: Hướng nào Hà Nội cũng sông (2009), SBC là săn bắt chuột (2011). Sách của ông được dịch ra hơn 10 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thụy Điển,… 1. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời bản năng trong văn học 1. Một số quan niệm chung về con ngƣời trong văn học sau 1975 Văn học Việt Nam từ 1945 – 1975 do chú trọng các nhiệm vụ chính trị, lấy việc phản ánh và động viên kịp thời cuộc kháng chiến của dân tộc làm đối tượng sáng tác chủ yếu.
Vì thế, truyện ngắn cũng như tiểu thuyết trong giai đoạn này thường hướng tới những bức tranh hiện thực hoành tráng. Đề tài chiến đấu và lao động sản xuất của quân và dân ta nổi lên như hai gam màu chủ đạo. Văn học cách mạng thường hướng đến xây dựng những hình tượng con người anh hùng, sử thi. Đó là những con người tập thể, đôi khi thiếu cá tính, mờ nhạt về tâm lí.
Do chú trọng vận mệnh dân tộc, văn học thời kì này dường như chỉ mới phản ánh cái hiện thực bề nổi, chưa phản ánh toàn diện hiện thực phức tạp và khốc liệt của chiến tranh, chưa đi sâu vào những vấn đề xã hội trong cuộc sống bình thường hằng ngày của con người, vào số phận và hạnh phúc cá nhân. Sau năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng, văn học cách mạng đã hoàn thành sứ mệnh của mình và nhường chỗ cho một nền văn học mới thích ứng với thời đại mới. Từ đây, văn học Việt Nam đã tiến một bước khá dài trên chặng đường phát triển. Đời sống văn học có sự vận động ở chiều sâu với những trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của đời sống và có ý thức trách nhiệm cao cả về ngòi bút của mình, đó là những người đi tiên 7 phong trong công cuộc đổi mới văn học, trong đó phải kể đến những nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng,… Phạm vi, đối tượng sáng tạo được được mở rộng, khai thác đến các tầng vỉa của hiện thực đời sống và con người.
Nhưng nhà văn không coi việc miêu tả hiện thực đời sống là mục đích của nghệ thuật mà coi trọng hơn đến hiện thực con người, với thân phận và cuộc đời của nó với các tác phẩm như Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ăn mày dĩ vãng,… Các đề tài truyền thống quen thuộc hay hiện đại, mới mẻ đều được đưa vào trường nhìn mới hướng đến hệ quy chiếu: số phận cá nhân, sự nhập cuộc của con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn. Văn học không chỉ là tiếng nói chung của dân tộc, thời đại, cộng đồng mà còn có thể và cần phải là phát ngôn của mỗi cá nhân. Trong một nền văn học hướng tới tinh thần dân chủ thì nhà văn luôn phát biểu được những tư tưởng và cái nhìn riêng của mình đối với hiện thực. Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thực như là đối tượng phản ánh, khám phá của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàn diện.
Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng và đời sống cộng đồng mà đó còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa sự đa đoan, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống. Hiện thực đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch. Văn học sau năm 1975 được chuyển đổi từ chất liệu anh hùng ca chuyển sang chất liệu đời thường. Văn học tái hiện đời sống thường ngày với muôn vàn dáng vẻ, văn học tìm đến kiểu con người đa diện.
Sự thức tỉnh ý thức cá nhân làm thay đổi quan niệm về con người. Con người trong văn học hôm nay được khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và cả dục vọng tầm thường, con người cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát. Bên cạnh cái đẹp, cái anh hùng, cái cao cả, con người trong văn học giờ đây còn có cả cái xấu, cái thô kệch, thấp hèn,… Con người cá nhân bước đầu được nhìn nhận và khai thác với tất cả những gì vốn có của nó: đó là kiểu con người tâm linh, con người cá thể, con người dị thường, con người bản 8 năng, con người tha hóa,… Văn xuôi sau 1975 đón nhận những cách tân trong quan niệm nghệ thuật về con người với các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Anh Thái,… 1. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời bản năng trong một số tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Xuôi theo dòng chảy của văn học sau cách mạng, Hồ Anh Thái cũng có những đổi mới đáng kể trong quan niệm nghệ thuật về con người.
Hồ Anh Thái đã nỗ lực tạo nên một phong cách riêng, mang lại sinh khí mới cho đời sống văn học bằng việc xây dựng chân dung con người mới hiện đại. Ông đi sâu vào nội tâm, lật xới, đưa ra ánh sáng những phần khuất lấp bên trong con người bị che giấu bấy lâu nay. Người đọc sẽ bắt gặp những con người với nhiều trăn trở trước các vấn đề của đời sống: thiện – ác, bản năng – lí trí, dục vọng, tình yêu, thù hận,… Cùng với những nhà văn cùng thời khác, Hồ Anh Thái đã nhận dạng ra biết bao kiểu con người: con người anh hùng, sử thi, cao cả, con người thấp hèn, bản năng, tự nhiên, ích kỉ, cá nhân, con người tâm linh, siêu phàm, trí tuệ,… Hồ Anh Thái xây dựng những kiểu người khá đa dạng. “Cõi người” trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái phong phú và phức tạp.
Qua đó, nó hàm chứa một quan niệm, một cách nhìn, một chiêm nghiệm về cuộc đời, về nhân tình thế thái của nhà văn. Hồ Anh thái có những chiêm nghiệm hướng vào chiều sâu nhân bản với từng số phận con người. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái khá đa dạng. Hồ Anh Thái thành công trong việc xây dựng hình tượng con người tha hóa trong xã hội hiện đại.
Theo quan niệm của ông, sự tha hóa đồng nghĩa với cái ác. Với tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, ba nhân vật Cóc, Bóp, Phũ là những điển hình cho lối sống thác loạn của một bộ phận thanh niên trong xã hội hiện đại. Người đọc sẽ nhận thấy ở Bóp sự hiện thân của cái ác, anh chàng chỉ thích tìm khoái cảm trong việc bóp chết một con vật nào đó. Qua đó, nhà văn báo động về một ngày tận thế, cái ác sẽ ngự trị con người nhưng đồng thời tác giả vẫn neo giữ một niềm tin cho người đọc ở sự hướng thiện của con người.
Con người trống rỗng, lạc loài từng được Hồ Anh Thái thể hiện qua một số nhân vật trong 9 các tác phẩm của mình.