Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan. Chương 2: Khảo sát câu đơn trong tác phẩm “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu trúc thông tin. Chương 3: Tiêu điểm thông tin và giá trị biểu đạt của câu đơn trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1.
Câu đơn và câu đơn từ bình diện cấu trúc thông tin 1. Khái niệm về câu đơn Theo quan niệm truyền thống, ở bình diện ngữ pháp, câu được cấu tạo bởi các thành phần ngữ pháp. Mỗi thành phần ngữ pháp đó có những đặc trưng riêng về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp. Toàn bộ các thành phần ngữ pháp trong câu tạo nên hệ thống thành phần ngữ pháp của câu.
Như ở tiếng Việt, các thành phần ngữ pháp trong câu được quan niệm gồm ba loại: các thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ), các thành phần phụ, thứ yếu (trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ), các thành phần biệt lập (chú ngữ, hô ngữ, tình thái ngữ, cảm thán ngữ). Mỗi thành phần ngữ pháp như thế được xác định đặc tính bởi các đặc điểm về ý nghĩa ngữ pháp khái quát và đặc điểm về hình thức ngữ pháp. Chính vì thế, khi định nghĩa về câu, ngữ pháp truyền thống cho rằng: “Câu là đơn vị ngữ pháp dùng để thông báo có tính giao tiếp, tính tình thái và tính vị ngữ”. Tính giao tiếp của câu tức là mục đích giao tiếp nhất định của câu.
Tính tình thái là sự biểu thị về thái độ và ý thức hay sự biểu cảm nào đó của con người đối với nội dung câu (khẳng định, phủ định, nghi vấn, yêu cầu, than gọi). Tính vị ngữ của câu là sự kết hợp cú pháp có quan hệ tương tự [18, tr. Câu đơn tiếng Việt phần lớn do các đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị tạo nên, một bộ phận khác của câu đơn do các đơn vị tính vị ngữ có dạng một từ hay cụm từ kết hợp với ngữ điệu tạo nên. Phan Thiều, Nguyễn Kỳ Thục, trong sách tiếng Việt 7 quan niệm rằng: “Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt chính C – V hay một mệnh đề”.
Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt của trường ĐHSP Vinh, sách Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, và Ngữ pháp tiếng Việt của UBKHXH, Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt của Hữu Quỳnh lại cho rằng: “Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt C – V. Căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp, có thể chia câu đơn thành hai loại: câu đơn hai thành phần và câu đơn một thành phần. Luan van 9 Câu đơn hai thành phần (câu đơn bình thường) là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị làm nòng cốt tức là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ. Đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị (gọi tắt là C – V) có thể có cấu tạo khác nhau [18, tr.
Ví dụ: - Anh bộ đội// đứng gác đêm khuya - Hoa thơm// bay dậy vòng quanh đồi. (Tế Hanh) (ghi chú: Chủ ngữ// Vị ngữ) Câu đơn một thành phần là câu đơn chỉ có một từ hay một cụm từ làm thành phần nòng cốt của câu; từ hoặc cụm từ đó, nhờ sự kết hợp với các phương tiện ngữ pháp khác nhau, mà trở thành một đơn vị tính vị ngữ làm tổ chức trung tâm của câu; thành phần duy nhất làm nòng cốt của câu đơn một thành phần không xác định được là chủ ngữ hay vị ngữ [18, tr. Câu đơn một thành phần còn được gọi là câu đơn đặc biệt. Nó khác với câu rút gọn.
Ví dụ: - Quá trƣa. Ngày gần về chiều, những giờ còn lại qua rất nhanh. (Trần Đăng) - Tuyệt! - Thôi chết rồi! Câu trong tiếng Việt cũng được phân tích theo cấu trúc vị từ - tham thể. Người khơi nguồn cho phương pháp này là L.Tesnière với lý thuyết diễn trị.
Ông đã gợi ra một giải pháp giải nghĩa độc lập cho việc phân tích câu. Sau ông, nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến vấn đề này đó là C.Hagège,… Để phân tích được câu phải xác định được vị từ trung tâm, sau đó xác định các tham thể bắt buộc xoay xung quanh vị từ đó, cuối cùng là xác định các tham thể mở rộng. Luan van 10 Ví dụ: Ngày 8-3 tôi tặng cho người yêu một bó hoa hồng. TTMR TTBB VTTT TTBB TTBB (Ghi chú kí hiệu: TTMR: Tham thể mở rộng; TTBB: Tham thể bắt buộc; VTTT: Vị từ tham thể) Nếu như ở bình diện ngữ pháp câu ở trạng thái cô lập, tách ra khỏi ngữ cảnh và khỏi hoạt động giao tiếp, chưa gắn với mục đích của người nói thì bình diện dụng học câu không tồn tại ở dạng biệt lập, tách khỏi hoạt động giao tiếp, mà luôn gắn liền với các nhân vật giao tiếp, với ngữ cảnh, với mục đích giao tiếp, nhiệm vụ và hiệu quả giao tiếp,… Ngữ pháp chức năng không phân tích cú pháp câu theo chủ - vị như quan niệm truyền thống nhưng lại phân tích câu theo bình diện cú pháp.
Ở bình diện cú pháp, câu tiếng Việt được phân tích làm hai phần: Đề và Thuyết, tương ứng với hai thành phần của mệnh đề. Nó thường đi theo trật tự bình thường là Đề trước Thuyết sau. Câu hai phần có thể chỉ gồm một bậc Đề - Thuyết hoặc có từ hai bậc Đề Thuyết trở lên. Người ta có thể chia thành câu một bậc, và câu nhiều bậc.
Câu một bậc là câu mà cả Đề lẫn Thuyết đều có cấu trúc không thể chia thành hai phần Đề và Thuyết ở cấp bậc thấp hơn. Ví dụ: Cơm // đã dọn xong [7, tr. Đ T Câu nhiều bậc là câu mà Đề hoặc/ và Thuyết bậc trên được cấu tạo bằng một cấu trúc Đề Thuyết bậc dưới. Nói cách khác, câu nhiều bậc là câu lấy một cấu trúc Đề - Thuyết làm Đề hoặc/ và Thuyết [7, tr.
Ví dụ về câu hai bậc. Luan van 11 C Đ T đ t Ông cụ // dạo này yếu lắm. Trong câu hai bậc, ta có những kiểu câu như: Câu có thuyết là tiểu cú, câu có Đề là tiểu cú, đề và thuyết của câu cũng có thể ghép, cấu trúc tiểu cú có thể có cả ở Đề lẫn Thuyết đơn hoặc ghép. Ngoài câu hai thành phần, ta còn có câu 1 thành phần còn gọi là câu không đề.
Đây là câu chỉ gồm một phần thuyết, không có đề trên bề mặt của câu. Không chạy xe trong trường. Đọc những câu lệnh trên, người đọc biết ngay là mình bị cấm, mình không được, mình phải,…nhưng Đề của câu đã bị tỉnh lược nhưng người nghe vẫn hiểu rõ thông tin, có nghĩa là (Ở đây) cấm hút thuốc lá, (Ở đây) Không chạy xe trong trường. Đề “Ở đây” đã bị tỉnh lược.
Ở bình diện dụng pháp, câu được chia theo thành hai phần là cái cho sẵn và cái mới. Nó cũng có thể được gọi là nêu – báo mà chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn các quan niệm của các nhà ngôn ngữ học phía dưới. Trong cái cho sẵn và cái mới, thì cái cho sẵn (phần nêu) là xuất phát điểm của thông báo, là đối tượng của cuộc nói chuyện, tức là thông tin đã biết hoặc dễ nhận biết mà từ đó người nói bắt đầu thông báo của mình; còn cái mới (phần báo) là trọng tâm của thông báo, là hạt nhân của cuộc thoại.Mathesius cũng cho rằng cái cho sẵn tương ứng với phần đề của câu, còn cái mới tương ứng với phần thuyết.K Halliday phát hiện cái cho sẵn – cái mới không tương ứng với cấu trúc đề - thuyết của câu. Luan van 12 Ví dụ: Cô ấy // đã thức suốt đêm qua.
CC CM (ghi chú: Cái cũ// cái mới) Trên cơ sở và đề tài của đề tài, chúng tôi sẽ đi theo hướng phân tích câu từ bình diện CTTT. Cụ thể hơn về khái niệm, quan niệm câu từ bình diện CTTT, chúng tôi sẽ làm rõ trong các phần sau của khóa luận. Một số quan niệm về CTTT CTTT vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh luận của các nhà ngôn ngữ học hiện nay. Chính vì thế mà có rất nhiều quan niệm về CTTT, có những quan niệm đồng nhất với nhau, có những quan niệm trái ngược nhau.
Nhà ngôn ngữ học đầu tiên nghiên cứu về lý thuyết phân đoạn thực tại câu là V.Mathesius cho rằng CTTT đồng nhất với cấu trúc đề thuyết (theme – rheme/ comment), trong đó đề/ chủ đề được gọi là thành phần biểu hiện TTC, thông tin đã được tiền giả định trong ngữ cảnh, có tỉ lực thông báo thấp nhất, còn thuyết/ tiêu điểm thường được xác định là thành phần mang TTM, thông tin chưa được tiền giả định hoặc là thành phần có tỉ lực thông báo cao nhất. Đây là quan niệm phổ biến nhất được nhiều nhà ngôn ngữ học tán thành. Nói một cách vắn tắt và sơ lược thì theo cách phân chia này, CTTT của câu được chia làm hai phần: phần thứ nhất là phần chứa cái đã biết hoặc chỉ ít cũng dễ dàng hiểu được và người nói lấy đó làm điểm xuất phát thì được gọi là đề ( cơ sở), phần còn lại thông báo về điểm xuất phát là phần thuyết (hạt nhân) của phát ngôn. Trong một câu trật tự đề và thuyết có thể thay đổi.
Nếu đề là T (viết tắt của Theme) đứng trước thì phần thuyết là R (viết tắt của Rheme) đứng sau và ngược lại: Cả làng Vũ Đại # nhao lên T R Trật tự T – R đươc gọi là trật tự khách quan Đen đủi # cho nó quá R T Luan van 13 Trật tự R – T được coi là trật tự chủ quan [Dẫn theo 22, tr. Tuy nhiên, ý kiến đồng nhất Đề/thuyết với Thông tin cũ/thông tin mới đã phải gặp phải những rắc rối khi phân tích câu, đặc biệt là phân tích câu theo tình huống và ngữ cảnh. Trong khi một số tác giả tiếp tục duy trì cách phân đoạn đề - thuyết theo tiêu chí “cũ – mới” truyền thống hoặc mở rộng hơn theo tiêu chí coi đề là “cái được nói đến” còn thuyết là bộ phận “thuyết minh” cho đề thì một số nhà nghiên cứu khác lại đi chệch khỏi sự phân chia lưỡng phân này. Chẳng hạn, J Firbas (1996) đưa ra cách phân đoạn tam phân là đề - chuyển đề- thuyết, trong đó chuyển đề là bộ phận.