Chương 1 NHUNG DIEU KIEN VA TIEN DE RA ĐỜI QUAN NIEM CUA F. DOSTOEVSKY VE CON NGƯỜI 1. Điều kiện kinh tế - xã hội ra đời quan niệm của F. Dostoevsky về con người Đến thế kỉ XIX, nước Nga vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, quan hệ phong kiến chiếm địa vị thống trị.
Hầu hết ruộng đất ở trong tay giai cấp quý tộc địa chủ và nhà nước nông nô chuyên chế. Sự thống trị của chế độ phong kiến đã kìm hãm bước quá độ của Nga sang chế độ tư bản. Trong khi hầu hết các nước châu Âu tiến hành cuộc cách mạng tư sản thì ở nước Nga diễn ra cuộc cải cách nông dân. Giai cấp tư sản Nga yếu ớt, không đảm đương được vai trò lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng chống phong kiến.
Chế độ phong kiến chuyên chế Nga hoàng đã áp đặt, nô lệ con người về thé xác và ý chí, bởi vậy, hầu hết các tác phẩm của Dostoevsky phản ánh hiện thực đời sống bức bối của xã hội Nga. Trong thé ki XVIII, XIX, nước Nga diễn ra nhiều cuộc chinh phạt, hình thành đế quốc Nga rộng lớn đã anh hưởng tới tư tưởng của người dân, trong đó có Dostoevsky. Các nhân vật trong truyện, tiêu thuyết của ông thé hiện niềm tự hào về tính cách dân tộc Nga. Chính khát vọng chinh phạt đã làm cho người Nga vừa trầm mặc, suy tưởng lại có khao khát nồi loạn với hi vọng tạo nên một trật tự xã hội mới cho con người.
Trong những năm 30-40 của thé ki XIX, van đề vận mệnh nước Nga được đặt ra gay gắt. Những người quý tộc và giới trí thức Nga ráo riết đi tìm một con đường phát triển cho nước Nga. Lúc này, xuất hiện hai phái đối lập và đấu tranh lẫn nhau. Đó là phái sing phương Tây và phái sting Xlavo.
Phái sing phương Tây dau tranh chống chế độ nông nô, tán thành chế độ quân chủ lập hiến, lấy nước Anh làm kiểu mẫu dé học hỏi. Phái sting Xlavo bảo vệ chế độ quân chủ, cho rằng nước Nga không cần học theo các nước phương Tây mà sẽ phát triển theo con đường độc đáo, riêng biệt. Vượt lên trên cả hai phái này là Belinxky và Gerzen. Đây là hai nhà tư tưởng lớn nhất của thời đại sau cách mạng tháng Chạp.
Nhóm này thường xuyên thảo luận về chủ nghĩa xã hội của Purie, về tình trạng bất bình đăng xã hội, về các quyền tự do dân chủ. Tham gia nhóm này có các nhà van Dostoevsky, Xantucov, Sedrin. 11 Đến giữa thế kỷ XIX, nước Nga tiếp tục có những thay đổi lớn, phong trào dau tranh của nông nô Nga phát triển đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội chuyên chế của Sa hoàng. Tuy nhiên, trước sức tấn công mạnh mẽ của nhân dân Nga, chính quyền Sa hoàng lại tăng thêm mức chuyên chế, sử dụng các chiêu bài chính trị và tôn giáo, trong đó sử dụng chính sách văn hóa như một phương cách để trị dân.
Nhiều phong trào đấu tranh của công nhân trỗi dậy mạnh mẽ kề từ thập niên 80 của thế kỷ XIX. Đến những năm 1860, các công xưởng, nhà máy, xí nghiệp vẫn còn rat ít, sản xuất phong kiến của quý tộc, địa chủ vẫn chiếm ưu thế. Bên cạnh đó, chế độ nông nô không chỉ tự hạn chế trong việc ngăn cản công nghiệp phát triển một cách đầy đủ, ngay cả trong nông nghiệp, năng suất lao động cũng rất kém. Quá trình phát triển kinh tế đã đây đến việc xóa bỏ chế độ nông nô.
Chế độ Nga hoàng bị suy yếu vì cuộc that bại quân sự do các nước Đồng minh (Anh, Pháp, Thé Nhĩ Kì) gây ra ở cuộc chiến năm 1855, dẫn đến 86 cuộc khởi nghĩa nông dân chống bọn địa chủ năm 1858, 90 cuộc khởi nghĩa năm 1859, 108 cuộc khởi nghĩa năm 1860. Tình thế đó làm chế độ Nga hoàng phải tính đến việc xóa bỏ chế độ nông nô. Có thé khang định, tất cả các cuộc khởi nghĩa của người dân Nga trong thế kỷ XIX đã tạo điều kiện thực tế cho các nhà tư tưởng tiến bộ nói chung và Dostoevsky nói riêng phát hiện ra: những điều kiện tối thiểu về kinh tế không được đáp ứng sẽ là nguyên nhân chính làm xuất hiện những phong trào phản kháng của con người dé tìm kiếm quyền tự do, dân chủ cho chính mình. Đây là giai đoạn đầu hình thành quan niệm của Dostoevsky về con người.
Cùng thời gian đó ở Nga diễn ra cuộc cải cách nông nô của Nga hoàng. Đạo luật ngày 19 tháng 2 năm 1861 đã thay thé ach nô lệ trực tiếp và hợp pháp của nông dân bằng sự phụ thuộc kinh tế của họ. Sau khi được giải phóng, hoàn cảnh sống của nông dân vẫn không được cải thiện. Cái mới duy nhất là họ có được quyền tự do cá nhân, không bị mua bán như một đồ vật.
Dưới ách thong trị của chế độ phong kiến, đa số nông dân không đủ sức để cai tiến các doanh nghiệp của họ. Dostoevsky là một trong số những người đầu tiên nhận ra bản chất thật sự của con người dang sau cải cách. Ong chỉ ra, Nga hoàng đã có nhiêu cải 12 cách tiến bộ, có gắng trong hoạt động cải cách nông nô nhưng cuộc cải cách này không vì lợi ích của nông dân mà chỉ là phương án tạm thời xoa dịu những mâu thuẫn trong xã hội. Hoạt động cải cách xã hội của Nga hoàng đã thé hiện hành động đi ngược lại tư tưởng tiến bộ của nhân dân Nga.
Những vấn dé này được Dostoevsky nhận ra và trở thành chủ đề trong các cuốn tiểu thuyết của ông như: Lữ người quỷ ám, Ga kho, Anh em nhà Karamazov. Nếu như trước đây Dostoevsky đề cao những chuẩn mực, luân lý, đạo đức của con người trong xã hội thì từ sau cuộc cải cách nông nô, ông quan tâm đến những gì mới mẻ, có khi phi chuẩn mực, phi đạo đức. Phương pháp thay đổi số phận con người đã hoàn toàn thay đổi, từ chỗ sử dụng bạo lực và mong muốn thay đổi chế độ, nhà nước, Dostoevsky chuyển sang quan niệm duy tâm tôn giáo về con người. Sau cải cách năm 1861, xã hội Nga có sự thay đôi, nhưng đời sống người dân vẫn chịu nhiều khổ cực, hơn 10 triệu người dân không được hưởng quyền lợi sau cải cách.
Mâu thuẫn giai cấp, đặc biệt giữa nông nô và địa chủ ngày càng sâu sắc. Năm 1861 đã diễn ra tong cộng 1176 cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Chế độ Nga hoàng ra sức đàn áp nhân dân làm xảy ra biến có lớn đối với Dostoevsky, cha ông bi giết chết bởi những nông nô Nga, sự kiện này ảnh hưởng lớn tới Dostoevsky, gây nên sự hoang mang lo lắng của ông về cuộc đời và số phận con người. Chiến tranh, đói khổ bủa vây những con người Nga nhỏ bé làm cho cuộc sống của họ ngày càng phải chứng kiến nhiều sự việc vô nhân tính.
Nó đè nén tỉnh thần con người, khiến họ luôn sống trong cảnh hoang mang, lo sợ, nhân tính trở nên tha hóa, phức tạp, luôn giằng xé, mâu thuẫn với nhau. Sau cuộc cải cách năm 1861, những nhu cầu về tinh thần của người dân Nga được chú ý, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Rất nhiều sinh viên, thanh niên tô chức dau tranh nhằm đòi quyền tự do chính tri, tự do báo chí, cải thiện đời sống cho nhân dân. chính quyền Nga hoàng ra sức đàn áp làm gần 200 người bị giết hại trong năm 1861.
Đây là điều kiện tiền đề bùng nỗ các phong trào cách mạng xã hội tại Nga. Bên cạnh đó, giới trí thức Nga, trong đó có Dostoevsky nhận thức rõ các tư tưởng, phương cách hành động trên quá trình tìm con đường tự do cho số phận con người. 13 Xóa bỏ chế độ nông nô và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng cho người dân Nga khỏi tình trạng nô lệ mở ra hy vọng về tương lai tự do. Tuy nhiên, khi thoát khỏi tầng giai cấp địa chủ, họ lại phải chịu sự chi phối của giai cấp tư sản.
Cuộc sống nghèo khổ vẫn bám lấy khiến họ phải dành toàn bộ tâm trí dé tạo ra của cải vật chất nuôi sống gia đình và chính bản thân họ. Dostoevsky đã chỉ ra sự trong rong của con người, hành động không còn theo ý chí, tinh thần ngày càng bị giới hạn. Họ ý thức sâu sắc về tình trạng của mình, tha thiết mong muốn đạt được tự do thật sự. Người dân Nga mong muốn nhận thức các giá trị của bản thân, kiến tạo những giá trị mới, xóa bỏ hoàn toàn cuộc sống nô lê về tinh thần.
Những khát khao về tự do, dân chủ ngày càng mạnh mẽ đây con người đến những hình thức phản kháng dé thỏa mãn những nhu cầu của tinh than. Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, diễn ra nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân Nga đặc biệt là của công nhân. Các nhà tư tưởng Nga không chấp nhận đời sống xã hội thực tại nên họ thực hiện các phong trào đấu tranh khủng bó, tổ chức ám sát Nga hoàng năm 1881. Chính quyền phong kiến đã thực hiện hàng loạt biện pháp hà khắc, áp đặt lên người dân như cam thong tin, bao chi, han ché hoat động cua các trường học, giáo dục — đặc biệt là giáo dục đại học.
Trong hoàn cảnh đó, con người càng khao khát tự do hơn, muốn tìm kiếm con đường tiến bộ cho số phận con người. Phân tích về quá trình phát triển cách mạng ở Nga, Lênin đã chỉ ra ba giai đoạn khác nhau: “Phong trào giải phóng ở Nga đã trải qua ba giai đoạn chủ yếu tương ứng với ba giai cấp chủ yếu trong xã hội Nga đã có ảnh hưởng đến phong trào: 1) thời kỳ quý tộc, khoảng từ năm 1825 đến năm 1861; 2) thời kì trí thức bình dân hay thời ki dân chủ tư sản, khoảng từ năm 1861 đến năm 1895; 3) thời kì vô sản từ năm 1895 cho đến nay” [33, tr. Tư tưởng của Dostoevsky ra đời và ảnh hưởng từ hai giai đoạn đầu. Ông quan tâm đến cuộc sống của con người, suy nghĩ tìm cách lí giải bản chất, đặc tính của họ.
Thông qua các tập tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, Dostoevsky đã gián tiếp chỉ ra những quan niệm về con người của mình. 14 Chủ nghĩa tư bản phương Tây ảnh hưởng đến nước Nga trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn hóa. Những người nông dân Nga vốn hiền lành, chất phác nay chịu sự chỉ phối của đồng tiền khiến họ trở nên tha hóa, vị lợi, trở thành nô lệ của đồng tiền.