Chương 1. “DONG Ý THUC” VỚI TIEU THUYET HIỆN ĐẠI Chương 2. ĐẶC DIEM “DONG Ý THỨC” TRONG TIEU THUYET CỦA VƯƠNG MÔNG Chương 3. NGHỆ THUẬT BIEU HIEN “DONG Ý THUC” TRONG TIỂU THUYET CUA VƯƠNG MÔNG.
PHAN NỘI DUNG. CHUONG 1: “DONG Y THUC” VOI TIEU THUYET HIEN DAI.1 Nén tang ra đời nghệ thuật “dòng ý thức” trong văn học 1.1 Khai niệm “ý thức”, “dòng ý thức” Từ khi loài người hình thành, tiễn hóa, lao động kiếm sống, ý thức đã phát triển song song với khả năng giao tiếp, ngôn ngữ. Vậy “ý thức” (= iA ) là gì? Da có rat nhiêu công trình nghiên cứu vê “ý thức”, tựu chung lại “ý thức” là phân “hôn” của con người, đó là khả năng nhận biệt các sự kiện tâm linh cũng như giác quan có khả năng nhận biệt các sự kiện vật lý. Y thức bao gồm nhiều yếu tố: tri thức, ý chí, cảm giác, trong đó tri thức là căn bản.
Chủ nghĩa Duy Tâm ( Mfé 2b = ) cho rằng: ý thức có trước vật chất có sau và ý thức sản sinh ra vật chất. Ngược lại, Chủ nghĩa Duy Vật ( IỆ # = SX) cho rằng: vật chất có trước và sản sinh ra ý thức. Tâm lí học hiện đại ( ĐỊ {È % H 3# ) cho rằng: “ý thức” của con người là các phản ứng của cảm giác và tinh thần với những mức độ khác nhau, bao gồm tư duy hợp lí từ mức độ thấp nhất với cảm giác mơ hồ trước khi hình thành ngôn ngữ đến mức độ cao nhất có được sự biểu dat rõ ràng. Trong thời khắc nhất định, ý thức của một con người là dòng liên tục không dứt, được tạo thành từ cảm giác, tư duy, hồi ức, ảo giác, liên tưởng ở mức độ khác nhau.
Cho đến nay, ý thức vẫn tiếp tục là đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều khám phá mới mẻ, có đóng góp rất quan trọng trong sáng tác văn học nghệ thuật. “Dòng ý thức” là một kĩ thuật tự sự của văn xuôi hiện đại. Nó được khơi nguồn từ công trình Nguyén lí tâm lí học (1890) của nhà tâm lí học, nhà triết học thực dụng William James (1842- 1910). Ông cho rằng “ý thức” là một dòng chảy, dòng sông, trong đó các ý nghĩ, cảm giác, các liên tưởng thường xuyên đan xen, hòa quyện vào nhau một cách lạ lùng, “phi lôgIc”.
Trong cuốn Dan luận phê bình văn học, các tác giả Mỹ phát biểu về khái niệm “dòng ý thức”: “Một biến thái hiện đại của điểm nhìn ở ngôi thứ nhất, đó là một phương tiện được gọi la dong y thúc (. Phương tiện nay được sw dụng bởi James Joyce trong Ulysses, boi Virginia Wolf và đôi khi bởi Faulkner, thường không giống nhau va không nên dong nhất nó với lời giải thích thêm của người kể chuyện về suy nghĩ cua nhân vat. Nhà phê bình văn học Molibva lại đồng nhất “dòng ý thức” (= iff Fi ) với “độc thoại nội tâm” (A vt 3# A) : “Nó xuất hiện như diễn từ không biểu đạt nên lời của các nhân vật hoặc như diễn từ của tác giả, nhân danh mình mà nói, nhưng có thể coi như đã mượn từ vựng và giọng điệu của nhân vật; hoặc như đối thoại bên trong ở đó giọng nói của nhân vật; bị sẻ làm đôi thành hai giọng phân biệt và đối nghịch; nó xuất hiện dưới hình thức một chuỗi kết luận có tổ chức cũng như qua những ý kiến mơ ho và hỗn loạn”. Theo tiến si Arvind Nawale (An Độ), trong một bối cảnh văn học, thuật ngữ “dòng ý thức” được dùng để chỉ một phương pháp tự sự mà theo đó các nhà viết tiểu thuyết mô tả những suy nghĩ và tình cảm không nói ra của nhân vật, không sử dụng đến cách mô tả khách quan, hoặc những suy nghĩ và tình cảm phong phú của nhân vật mà không quan tâm đến lập luận lôgic.
Bang kĩ thuật dòng ý thức, nhà văn muốn phản ánh mọi lực lượng bên trong và bên ngoài ảnh hưởng dén tâm lí của nhân vật tai một thời điêm. 10 Tiểu thuyết “dòng ý thức” ra đời có đóng góp quan trọng từ Chủ nghĩa trực giác của Henri Bergson và các học thuyết Tâm lý học, Phân Tâm học của W.2 Chủ nghĩa trực giác Henri Bergson Nhận thức trực giác là giai đoạn tiếp theo của hoạt động tiếp xúc với hiện thực, tác động đến thế giới và khởi đầu cho một sự cảm thụ hoàn hảo dựa trên việc khám phá chiều sâu bản thể của đối tượng. Vậy nên, nhiều nhà triết hoc, mỹ học và nghệ si đã chủ trương sử dụng trực giác dé chiếm lĩnh thế giới một cách trọn vẹn có chiều sâu và đầy cá tính. Cảm xúc thông thường đối với đối tượng chưa thé nảy sinh rung động mãnh liệt dẫn đến nhu cầu sang tạo.
Trực giác lại giúp con người chìm ngập nhanh chóng vào dòng ý thức và thực tại sâu thăm. Nó không kết thúc ở đánh giá phân tích đơn thuần như cách cảm nhận lý tính thông thường, những nhận xét lôgIc cua lý trí đối với cái đẹp và nghệ thuật đôi khi không tiếp cận được dòng chảy bí ấn bên trong. Tinh chất trực tiếp của trực giác, mối liên hệ của trực giác với tưởng tượng va tình cảm con người đã cho phép coi trực giác là yếu tố hết sức quan trọng của thụ cảm tham mỹ và sáng tạo nghệ thuật. Nhà triết học của Chủ nghĩa Duy ý chi (HE 3 ® V) Friedrich Wilhelm Nietzche chủ trương nhận thức hiện thực băng trực giác.
“Truc giác thủy chung là một sức mạnh sáng tạo tích cực”. Trực giác là một thấu thị gắn với nhu cầu của bản năng và ý chí của sinh mệnh chủ thé. Nhà triết học Italia Benedetto Croce với Chủ nghĩa biểu hiện ( 3 3 = ) cũng xây dựng quan niệm nghệ thuật với điểm xuất phát từ nguồn gốc của trực giác. Trực giác không cần sự hỗ trợ của lý trí và không bị ràng buộc bởi định kiến nào.
Trong trực giác đã bao hàm quá trình sáng tạo và thưởng thức mang đây tính biểu hiện. 11 Trong thuyết Chủ nghĩa trực giác (IÑ 3# = ) của Henri Bergson, thì trực giác được đề cao, bởi trực giác phá vỡ được bức tường ngăn cách nhận thức của con người với vạn vật. Những quan sát bên ngoài chỉ được chuyên hóa thành quan sát bên trong qua con đường trực giác. Bergon cho rằng trực giác khác với trí tuệ, nó cho ta bắt gặp được tức thời cái tuyệt đối, cái huyền niệm- nó không đo lý trí, không đo trí tuệ nhưng nó cho ta khả năng trực tiếp đi vào trí tuệ, vào cái biết cao sâu, tinh tế nhất mà không qua suy tư, lý luận.
Giống như những nhà mỹ học, triết học trước đó, Henri Bergson cũng chủ trương dùng trực giác để đi sâu nhận thức và khám phá những phương diện của cuộc sống và con người. Nhận thức thông thường mang tính chất lý tính không thé đi vào ban thể của đối tượng, vì còn phải dựa vào các giác quan và ngôn ngữ là những thứ có tác dụng ngăn cách. Chỉ có trực giác mới nhận thức ban thé một cách trọn vẹn và trực tiếp. Từ nền tảng kiến thức của Chủ nghĩa trực giác của Bergson, văn học phương Tây hiện đại đã xuất hiện hiện tượng gọi là “dòng ý thức”.
Khái niệm “thời biến” của ông đã có ảnh hưởng rất nhiều đến cấu trúc, thời gian- không gian của dong tiêu thuyết “dong ý thức”.3 Tâm lý học cơ năng William James và Phân tâm hoc Sigmund Freud. Tâm lý hoc cơ năng của James nhac rat nhiều đến thuật ngữ “dòng ý thức”. Trong chương IX cuốn Nguyên lý tâm by học của ông, “dong ý thức” được nhắc đến ít nhất tới năm lần và nó còn thường xuyên được thay thế bằng cách nói “dòng tư tưởng” ( 8 #8 Fi). Đó là một cách nói tương đối sinh động, biểu hiện một cách dễ hiểu con đường của những tâm tư, suy nghĩ, những bối rối ở bên rìa vô thức của con người.
“Dòng ý thức” không phải biểu hiện một cách lẻ loi, vụn vặt, một điểm, một giọt. Thí dụ những từ dạng “một chuỗi liên” hoặc “một loạt” v. đều không thích hợp như cách nói 12 trước đó. Ý thức không phải là sự gắn nối của mảnh đoạn, mà là trôi chảy.
Dùng hình ảnh một “dòng sông” hoặc một luồng “nước chảy” dé biểu đạt nó là rất hình tượng. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu nhắc đến “dòng tư tưởng”, “dong ý thức” hoặc là “dòng của đời sống chủ quan”. Khái niệm này đã có một ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới nền văn học nghệ thuật hiện đại thời bấy giờ, hình thành nên bút pháp “dòng ý thức”. Bút pháp “dòng ý thức” có nghĩa là người thuật chuyện thê hiện lại “dòng ý thức” của nhân vật bao gồm những ý nghĩ, liên tưởng, cảm xúc liên tục đan xen vào nhau và chuyên động liên miên tiếp nối như một dòng nước chảy.
Tuy nhiên, Tâm lý học cơ năng của William James mới chỉ dừng lại ở việc miêu ta và giải thích trang thái động của ý thức. Phải đến Phân tâm học của Sigmund Freud cùng với việc phát hiện “bộ máy tâm thần”, tâm lý con người mới được mô xẻ, phân tích toàn diện, đa chiều hơn. Freud cho rằng: “Quá trình tâm lý chủ yếu là thuộc về tiềm thức còn như quá trình tâm lý của ý thức chang qua chỉ là một động tác bộ phận được phân tách ra từ toàn bộ tâm linh. Chúng ta can nhớ rằng trước nay người ta thường cho tâm ly là y thức, là đặc trưng cua đời sống tâm lý, và tâm lý học được xem là khoa học nghiên cứu nội dung của ý thức.
Cách nhìn này quá rõ ràng đến nổi bất kỳ một sự phản đối nào cũng bị xem là gây rồi. Nhung trái lại, Phân tâm học cho rằng tâm linh có bao hàm tác dụng của tình cảm, tư tưởng, dục vọng. mà tu tưởng va đục vọng đều có thé là tiềm thức”. (11, 265], Sigmund Freud đã nêu ra kết cấu ba tầng của hoạt động tâm lý con người như sau: - “Hệ thống vô thức: Đây là kho tàng của dục vọng và bản năng sinh vật.
Nhưng bản năng và dục vọng này chất chứa những năng lượng tâm ly mạnh mẽ, phục tùng theo nguyên tắc khoái lạc, và ra sức xâm tràn vào cối ý thức đề được thoả mãn.