Mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích và đối chiếu phương thức biểu hiện hành vi ngôn ngữ phủ định trong văn học đương đại Việt Nam và trong văn học đương đại Pháp Chương 5: Kết luận 8 Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ phủ định trong tiếng Việt Bắt đầu từ thập niên 80, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến hành vi ngôn ngữ trong lĩnh vực ngữ dụng học. Trong đó, ngữ pháp truyền thống phân loại câu dựa trên hai tiêu chí chính: cấu trúc ngữ pháp và mục đích giao tiếp.
Ngược lại, ngữ dụng học tập trung vào việc nghiên cứu các hành động tại lời (ngôn trung) thể hiện trong quá trình phát ngôn, không đi sâu vào phân loại câu theo cấu trúc hoặc mục đích như ngữ pháp truyền thống. Nội dung chi tiết của các nghiên cứu này được tổng hợp cụ thể như sau: Theo quan điểm ngữ pháp truyền thống Trong Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Lê Văn Lý (1972) đã đưa ra phân loại các loại câu trong tiếng Việt thành các nhóm chính như sau: câu tự loại, câu đơn giản, câu phức tạp, câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu cầu khiến, và câu cảm thán. Ông cho rằng người nói dùng câu phủ định để phủ định một sự kiện, một biến cố hay một tình trạng nào đấy được cấu thành bởi các từ ngữ vi phủ định không, chưa, chẳng, chả, đừng, chớ và một số câu có hình thức nghi vấn nhưng mang nghĩa phủ định được thành lập bởi những từ có xuất hiện của các từ: ai, đâu, gì, nào. Diệp Quang Ban (1996) phân loại các kiểu câu tiếng Việt dựa trên mục đích giao tiếp, bao gồm câu tường thuật (thông báo sự việc), câu nghi vấn (hỏi thông tin), câu mệnh lệnh (yêu cầu, ra lệnh), và câu cảm thán (bộc lộ cảm xúc).
Về cấu trúc phủ định, ông chia thành phủ định toàn phần (bác bỏ toàn bộ nội dung), phủ định bộ phận (phủ nhận một phần ý nghĩa), và phủ định gián tiếp (thể hiện qua hàm ý hoặc cấu trúc phức tạp). Ông nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh trong việc xác định ý nghĩa phủ định, đồng thời chỉ ra rằng câu phủ định không chỉ để bác bỏ mà còn thể hiện nhiều sắc thái như từ chối hay phản bác. 9 Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1999), câu phủ định là loại câu trong đó người nói dùng các từ phủ định như không, chẳng, chưa, đừng để loại trừ, bác bỏ, hoặc phủ nhận một hành động, trạng thái, sự kiện, hay đặc điểm nào đó được nêu trong câu. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của các từ phủ định trong việc thể hiện sự không chấp nhận hoặc loại bỏ thông tin.
Ví dụ: “Tôi không biết.”, “Anh ấy chưa đến.” Nguyễn Đức Dân (2006) định nghĩa câu phủ định là loại câu mà người nói sử dụng từ ngữ hoặc cấu trúc phủ định để bác bỏ thông tin mà người nghe đã hoặc có thể giả định là đúng. Theo ông, câu phủ định không chỉ đơn thuần phủ nhận thông tin, mà còn phản ánh rõ ràng thái độ của người nói đối với nội dung được đề cập, đồng thời tác động trực tiếp đến nhận thức và cách hiểu của người nghe. Ông cũng nhấn mạnh rằng câu phủ định có thể được dùng với nhiều mục đích khác nhau, như bác bỏ một giả thiết, phản đối một quan điểm, hoặc loại trừ khả năng của một sự kiện. Các hình thức phủ định trong tiếng Việt rất phong phú, từ những cấu trúc đơn giản như không, chưa, đến các cách diễn đạt phức tạp hơn, mang hàm ý sâu xa hoặc gián tiếp, chẳng hạn không phải là không, chưa hẳn đúng.
Tùy thuộc vào ngữ cảnh và quan hệ giữa người nói và người nghe, việc sử dụng câu phủ định có thể linh hoạt để đáp ứng các mục đích giao tiếp khác nhau. Trong Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt Nguyễn Kim Thản (2008) đã cho rằng, căn cứ từng mục đích cụ thể thì có bốn loại câu: câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm xúc; dựa vào căn cứ lo-gíc câu được phân loại thành câu khẳng định và câu phủ định, trong đó câu phủ định gồm: câu kể – phủ định, câu hỏi – phủ định, câu cầu khiến – phủ định, câu hỏi – phủ định. Theo quan niệm của tác giả, căn cứ vào ý nghĩa của câu, có thể chia câu kể – phủ định thành hai loại chính: câu phủ định có hai dạng phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận. Câu phủ định toàn bộ phủ định toàn bộ sự việc ở phần vị ngữ, chủ ngữ hoặc bao trùm cả nòng cốt câu, còn câu phủ định bộ phân là câu mà sự phủ định diễn ra ở phần bổ ngữ chỉ trạng thái hay kết quả của hoạt động.
Theo bà nhận thấy trong câu phủ định, chủ yếu là ở phần nòng cốt của nó (trước nòng cốt, trước chủ ngữ, trước vị ngữ), ta thấy một trong những từ kèm phủ định: không, chưa (chửa), chẳng (chả), không hề, chẳng hề, chưa hề, chưa từng. 10 Theo quan điểm ngữ dụng học Trong Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo (1991) nhận định rằng nói năng là một hoạt động giao tiếp xã hội. Một câu nói không chỉ đơn thuần nhằm xác lập một mệnh đề mà còn thực hiện một hành động xã hội với mục đích giao tiếp cụ thể, gọi là hành động ngôn trung. Tác giả cho rằng việc phân loại câu dựa trên mục đích nói không phản ánh đầy đủ thực tế sử dụng ngôn ngữ.
Ông chia câu thành hai loại chính: câu trần thuật và câu nghi vấn. Cao Xuân Hạo đã đưa vào nghiên cứu của mình khái niệm hành động ngôn ngữ (mà ông gọi là hành động ngôn từ) dựa trên lý thuyết của triết gia Austin (1962). Ông nhấn mạnh rằng nói là một dạng hành động nhằm tác động đến người khác. Theo ông, khi giao tiếp, con người thực hiện các hành động như: khẳng định (hoặc phủ định), hỏi, yêu cầu, hứa hẹn, miêu tả, xin lỗi, cảm ơn, phê phán, thách thức, hoặc cho phép, và đôi khi kết hợp nhiều hành động cùng lúc.
Ông nhận định rằng câu phủ định là loại câu mà người nói dùng một thành phần phủ định để biểu thị sự bác bỏ về tính chân thực, tồn tại, hoặc khả năng xảy ra của sự kiện trong câu. Theo định nghĩa của Nguyễn Như Ý (1996) trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, hành vi ngôn ngữ là một đoạn lời nói mang tính mục đích rõ ràng, được thực hiện trong các điều kiện cụ thể. Hành vi này được xác định bởi các yếu tố tiết tấu – ngữ điệu và có sự hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm – âm học. Đồng thời, nó gắn liền với những ý nghĩa mà cả người nói và người nghe đều có mối liên hệ chung trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định.
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Dân (1998) trong cuốn Logic và tiếng Việt, lý thuyết hành vi ngôn ngữ cũng còn được gọi là lý thuyết hành động lời nói. Như vậy, khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó, người nói đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cũng cảm nhận được điều này. Nguyễn Thiện Giáp (2005) cho rằng mọi câu đều thực hiện một hành động nhất định, “làm điều gì đó” nhờ vào hiệu lực riêng của chúng. Ông nhấn mạnh rằng 11 chỉ khi hiểu rõ ngữ cảnh mà phát ngôn xảy ra, chúng ta mới có thể nhận diện được hành động ngôn từ mà nó thể hiện.
Theo ông, hành động ngôn từ chính là ý định chức năng mà mỗi phát ngôn muốn truyền đạt. Trong Giáo trình Ngữ dụng học, Đỗ Hữu Châu (2008) và Đỗ Việt Hùng nhấn mạnh rằng trong giao tiếp, con người không chỉ đơn thuần phát ra các chuỗi từ ngữ theo những quy tắc ngữ pháp, mà còn phải thực hiện một loạt hành động trong diễn ngôn để đạt được mục tiêu giao tiếp mong muốn. Các tác giả khẳng định rằng nói năng là hành động và ngôn ngữ được sử dụng nhằm những mục đích cụ thể như trần thuật, miêu tả, hỏi, xin, hứa, khuyên, mời, chào, xin lỗi,… Hành động ngôn ngữ, theo các tác giả, là những hành động được thực hiện trong quá trình tạo ra một phát ngôn (hoặc diễn ngôn) trong giao tiếp. Họ cũng chia các hành động này thành ba loại chính: hành động tạo lời, hành động mượn lời, và hành động ở lời, mỗi loại đóng vai trò nhất định trong việc hình thành và truyền tải nội dung giao tiếp.
Trong Ngữ pháp tiếng Việt phần câu, Diệp Quang Ban (2009) đã tiến hành phân loại câu dựa trên mục đích giao tiếp. Ông cho rằng việc phân loại câu theo mục đích nói không chỉ mang tính chất phân loại về công dụng, mà còn dựa trên cả đặc điểm ngữ pháp. Dựa trên mục đích giao tiếp, ông chia câu thành bốn loại chính: câu tường thuật (hay câu kể), câu nghi vấn, câu mệnh lệnh và câu cảm thán. Theo ông, câu phủ định là phương tiện để thực hiên hành vi ngôn ngữ phủ định.
Căn cứ vào lý thuyết hành vi ngôn ngữ, sự phủ định được chia thành sự phủ định miêu tả và sự phủ định bác bỏ. Sự phủ định miêu tả được thể hiện trong quá trình diễn đạt hoặc nhận xét về sự vắng mặt (tính âm) của một vật, sự việc, hiện tượng, hoặc các đặc điểm, mối quan hệ liên quan đến chúng. Loại phủ định này cũng thường dùng để trả lời các câu hỏi dạng có/không, nhằm xác định rõ sự tồn tại hoặc không tồn tại của đối tượng được đề cập. Sự phủ định bác bỏ xuất hiện khi một phát ngôn, hành động hoặc suy nghĩ trước đó bị phản đối, phủ nhận hoặc sửa chữa bởi chính người nói hoặc người khác.
Loại phủ định này nhằm không thừa nhận tính đúng đắn của thông tin đã được khẳng định hoặc đưa ra sự cải chính. Trong phạm trù câu phủ định bác bỏ, các kiểu câu thường gặp bao gồm: câu phủ định có kèm từ phải như không phải, chẳng phải, 12 chả phải, có phải đâu, có phải…đâu, đâu phải,…; các câu sử dụng tổ hợp từ như (không) có đâu, (không) có…đâu, đâu có, thế nào được; và các cách phủ định không sử dụng từ phủ định trực tiếp như mà, có mà. Những cấu trúc này thường được sử dụng để nhấn mạnh sự bác bỏ hoặc thể hiện sự không đồng tình một cách mạnh mẽ và rõ ràng.