mở đầu và duy trì cuộc hội thoại [178]; (6) Tăng cường hành vi được mong đợi [153]. 8 Xét về mặt chủ đề của HĐNN khen, Manes (1983) và Wolfson (1983) cho rằng khi thực hiện HĐNN khen, người phát ng n thường tập trung vào hai chủ đề là ngoại hình và khả năng [153, 178]. Xét theo g c độ v n h a, HĐNN khen rất đa dạng và có những nét v n h a đặc thù, một chủ đề thường được khen ở nền v n h a này nhưng lại có thể là điều cấm kỵ trong nền v n h a khác. Bản chất của HĐNN khen là lịch sự, là bày tỏ thái độ tích cực, nhưng nếu phát ng n khen được thực hiện không phù hợp, HĐNN khen lại trở nên phản tác dụng.
Nếu ai đ thực hiện HĐNN khen ai đ quá đáng, n i quá sự thật, hành động ấy sẽ bị cho là HĐNN nịnh. Thực hiện HĐNN khen nhưng với một giọng điệu giễu cợt hoặc n i ngược lại điều ai cũng thấy rõ là HĐNN mỉa. Để phân biệt được điều này, người nghe cần dựa vào ngữ cảnh và thái độ của người phát ngôn. Những nghiên cứu lí thuyết về hành động ngôn ngữ chê HĐNN chê cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới.
Xét về ngữ dụng học, HĐNN chê là một hành động ngôn trung. Theo cách phân loại của Austin [109], chê thuộc nh m hành động Ứng xử (Behabitives); Searle [165] xếp HĐNN chê vào nhóm Bộc lộ (Expressives). Wierzbicka [174] định ngh a HĐNN chê là một hành động ng n trung trong đ người nói nêu lên những nhận xét tiêu cực về những hành động, lựa chọn, từ ngữ, sản phẩm của người bị chê. HĐNN chê được thực hiện với mục đích gi p người nghe làm tốt hơn trong tương lai hoặc nêu lên sự không hài lòng, không thích những g người nghe đ làm nhưng kh ng c ngụ ý rằng những g người nghe đ làm đem đến những hậu quả không mong muốn đối với người nói; và Wierzbicka xếp HĐNN chê vào nhóm Phê phán (Blame).
Hai nhà nghiên cứu Olshtain và Weinbach (1993) lại xếp HĐNN chê vào nhóm Phàn nàn (Complaints) [159]. Vậy HĐNN chê (criticisms), HĐNN trách (blames) và HĐNN phàn nàn (complaints) khác nhau như thế nào? HĐNN trách được thực hiện để nêu trách nhiệm đối với một tình huống không thích hợp mà tình huống này có thể dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đối với cả người n i và người nghe, trong khi đ đối với HĐNN 9 phàn nàn th hành động không thích hợp của người nghe được cho là ảnh hưởng đến bản thân người nói. Xét về mặt chức n ng, HĐNN chê thường nhằm: (1) Biểu lộ sự bực bội, bất bình, khiển trách, h m dọa, phản kháng lại những cái bị cho là nhục mạ, xấu xa so với chuẩn mực nào đ trong x hội [159, 173]. Theo House và Kasper, HĐNN chê (criticisms), HĐNN kết tội (accusations) và HĐNN trách mắng (reproaches) là các dạng khác nhau của HĐNN phàn nàn (complaints).
Họ giải thích rằng cả ba hành động ngôn ngữ này đều có chung hai đặc điểm, đ là ―sự kiện xảy ra sau‖ (post-event) - c ngh a là việc đáng bị phàn nàn đ c trước khi lời nhận xét được bộc lộ và ―chống lại người n i‖ (anti-speaker) – tức là người nói sẽ phải chịu trách nhiệm, trả giá cho những gì mình nói [139]. Tuy nhiên Wierzbicka [174] lại khẳng định rằng HĐNN chê không nhất thiết phải luôn luôn xoáy vào một sự việc xảy ra trước theo quan điểm của House and Kasper, HĐNN chê có thể được sử dụng cho một sự việc t nh tại, v nh cửu hoặc không theo trật tự thời gian như ngoại hình hoặc tính cách của một người. Tracy, Dusen và Robinson (1987) cũng nhấn mạnh đặc điểm ―chống lại người n i‖ thích hợp cho HĐNN phàn nàn hơn là HĐNN chê vì khi thực hiện một HĐNN chê, người nói có thể muốn người nghe thay đổi tích cực hoặc có thể người nói chỉ muốn bộc lộ ý kiến của mình [172]. Họ phân tích các đặc điểm của HĐNN chê tốt (good criticisms) và HĐNN chê xấu (bad criticisms) bằng cách thu thập các HĐNN chê từ rất nhiều người với nền tảng v n h a khác nhau qua các bảng câu hỏi mở và kết luận c n m đặc điểm để phân biệt HĐNN chê tốt và HĐNN chê xấu, trong đ HĐNN chê tốt trước tiên cần phải dùng ngôn ngữ và thái độ tích cực, thứ hai sự thay đổi được đề nghị trong phát ngôn chê phải cụ thể và người chê có dụng ý giúp những thay đổi ấy có khả n ng xảy ra, thứ ba là lí do đưa ra lời chê phải có 10 lí, rõ ràng, tiếp đến HĐNN chê được bù đắp lại bằng cách đặt trong một th ng điệp tích cực hơn và một HĐNN chê tốt sẽ không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ của đối tượng giao tiếp.
Xét từ g c độ ngôn ngữ học xã hội, đặc trưng v n h a x hội đ ng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các chiến lược ngôn ngữ. Việc chọn lựa ngôn từ phù hợp quyết định sự thành công trong giao tiếp. Đặc biệt trong phát ngôn HĐNN chê người nói cần biết lựa chọn ngôn từ, chiến lược thực hiện HĐNN chê phù hợp với mục đích giao tiếp, tránh những điều đáng tiếc trong giao tiếp v đây là một hành động ngôn ngữ đe dọa thể diện cao. Từ những hiểu biết trên, chúng tôi nhận thấy việc phân loại các HĐNN vẫn chưa được các nhà nghiên cứu hoàn toàn thống nhất.
Do đ , tất cả kết quả phân loại các HĐNN cũng chỉ là vấn đề tương đối. Trong luận án, chúng tôi sử dụng tiêu chí và kết quả phân loại HĐNN của Searle [164], tức là c 5 nh m HĐNN: tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm và tuyên bố để nhận diện và phân loại HĐNN khen, chê trong truyện dành cho TN tiếng Anh và tiếng Việt. Bởi vậy, HĐNN khen, chê là một tiểu nhóm của HĐNN biểu cảm. Những nghiên cứu lí thuyết về hành động ngon ngữ khen HĐNN khen là việc người nói thể hiện thái độ tích cực đối với người nghe hoặc đối với đối tượng được khen.
HĐNN khen có thể được thể hiện bằng một từ, một câu, một bài hoặc có thể bằng các điệu bộ, cử chỉ: nụ cười, cái gật đầu, vỗ tay,… Hoàng Phê [184] trong Từ điển tiếng Việt do ông chủ biên đ định ngh a: HĐNN khen là n i đến sự đánh giá tốt về ai, về cái gì, việc gì với ý vừa lòng. Xét về g c độ v n h a, Bùi Thị Phương Chi và Phạm Thị Thu Hà (2005) đ chỉ ra rằng đặc điểm v n h a của mỗi quốc gia được thể hiện qua HĐNN khen [10]. 11 Xét về mục đích và chủ đề của HĐNN khen, Nguyễn Quang (1999) cho rằng HĐNN khen là một hành động dùng lời nói nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như: bắt chước người khác, gợi ý, tranh thủ dành tình cảm, thể hiện sự ngưỡng mộ, mở đường cho lời đề nghị, nhờ vả ai đấy, thể hiện quan tâm, lòng biết ơn,… Ông cũng phân loại chủ đề khen thành bốn nhóm: (1) Dáng vẻ bề ngoài; (2) Điều kiện kinh tế, cuộc sống vật chất; (3) Cuộc sống tinh thần, khả năng trí tuệ, thăng tiến sự nghiệp; (4) Giao tiếp xã hội [70]. Những nghiên cứu lí thuyết về hành động ngôn ngữ chê Trái ngược với HĐNN khen là HĐNN chê, cũng theo Hoàng Phê: HĐNN chê là tỏ ra không thích, không vừa ý với một người, một đối tượng, nội dung hay sự việc nào đ mà mình cho là kém là xấu hay kh ng đạt đến một ―chuẩn‖ nào đ [184].
Xét về chức n ng và chủ đề của HĐNN chê, Nguyễn Thị Hoàng Yến (2001) cho rằng HĐNN chê thực hiện các chức n ng như sau: (1) Hồi đáp cho khen, hỏi, đề nghị, mời, gọi, biểu cảm, cam kết, rủ rê. (2) Nhờ vả, xin xỏ. (3) Tỏ ra khiêm tốn. (4) Chứng tỏ hối hận.
(5) Khích đối tượng bị chê làm điều g đ c lợi cho người phát ng n. (6) Để khen và được khen. Tác giả cũng chỉ ra một số các chủ đề thường bị chê như sau: tr nh độ, khả n ng, bản chất và tính cách [104]. Trong giao tiếp hàng ngày, HĐNN khen, HĐNN chê có thể xuất hiện bất kì lúc nào, bất cứ ở đâu trong cuộc sống.
Để tránh mắc phải sai lầm khi đưa ra HĐNN khen hay HĐNN chê, người nói phải biết lựa chọn từ ngữ sao cho phù hợp với mục đích và đối tượng giao tiếp. Những nghiên cứu so sánh, đối chiếu về hành động ngôn ngữ khen, chê A. Hành động ngôn ngữ khen Nghiên cứu về HĐNN khen và hồi đáp khen, so sánh HĐNN này đ được thực hiện khá nhiều ở nhiều quốc gia trên thế giới. Wolfson và Manes (1981) kết luận rằng chức n ng của HĐNN khen là xây dựng và thắt chặt t nh đoàn kết, gắn bó giữa người khen và người được khen trong nghiên cứu đầu tiên của các ông [176].
Tiếp đến, Wolfson [178], Herbert [131] và Holmes [135] tập trung vào giả thuyết này và cung cấp thêm những kết quả rõ ràng để khẳng định giả thuyết ấy chính là chức 12 n ng chính của HĐNN khen. Manes [153] khẳng định HĐNN khen và hồi đáp khen phản ánh giá trị v n h a của một cộng đồng. Herbert [131] lại chỉ ra sự phân tầng trong xã hội là bản chất trong ý thức hệ của người Nam Phi, do đ người Nam Phi ít dùng những HĐNN khen trong giao tiếp, trái ngược hẳn với sự thường xuyên dùng HĐNN khen của người Mỹ. Người Mỹ có thói quen sử dụng HĐNN khen để thiết lập sự gắn bó với đối tác giao tiếp trong một tình huống mà vị trí xã hội, tầng bậc của họ chưa được xác định.
Ngược lại người Nam Phi không cần phải tận dụng HĐNN khen để thực hiện công việc này. Barnlund và Araki (1985) tiến hành nghiên cứu so sánh mật độ sử dụng HĐNN khen giữa người Mỹ và người Nhật và đưa ra những kết luận: Người Mỹ thường sử dụng HĐNN khen hơn người Nhật. Những đề tài mà người Mỹ thường khen là: ngoại hình, sự quyến rũ trong khi người Nhật thường xuyên khen công việc, học tập, ngoại hình [111]. Đại đa số người Trung Quốc thường từ chối HĐNN khen hoặc đưa ra những lời giải thích khi nhận được HĐNN khen, rất ít người hồi đáp HĐNN khen bằng cách cảm ơn như người Anh.