Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nửa thế kỷ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (khoảng từ 1960 đến nay)" do nghiên cứu sinh Cao Thị Thu Hoài thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Tuấn Anh và PGS. Nguyễn Đức Hạnh. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21), được bảo vệ tại Đại học Thái Nguyên năm 2015.
1. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam là bộ phận cấu thành của nền văn học đa dân tộc. Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, mảng văn học này ghi nhận sự tham gia của cả những cây bút người Kinh lẫn các tác giả người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, một số vấn đề thực tiễn và học thuật được tác giả luận án chỉ ra như sau:
- Nhiều tác giả người Kinh có đóng góp nền tảng giai đoạn đầu (như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyên Ngọc...) về sau chuyển hướng đề tài hoặc viết ít đi. Mặt khác, giữa người viết người Kinh và đối tượng miêu tả miền núi vẫn tồn tại khoảng cách về tâm thức, trải nghiệm văn hóa nội tại so với chính những người con sinh ra từ bản làng.
- Văn xuôi do các tác giả dân tộc thiểu số sáng tác dù đã trải qua hơn 50 năm nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử văn học. Nhiều tộc người và tác giả chưa được ghi nhận đầy đủ trong các bộ biên niên sử văn học Việt Nam hiện đại.
- Thực trạng già hóa đội ngũ sáng tác và sự thiếu hụt thế hệ kế cận đang đặt ra thách thức cho sự tồn tại và phát triển của văn xuôi dân tộc thiểu số.
- Nhu cầu cấp thiết về việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế - xã hội.
- Nhu cầu xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về diện mạo, tiến trình và thi pháp văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra tiến trình lịch sử, diện mạo, đặc điểm nội dung, nghệ thuật qua tác phẩm của những cây bút tiêu biểu, đồng thời xác định những thành tựu và hạn chế nhất định của văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát về lịch sử phát triển của văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam từ khi hình thành cho đến nay.
- Chỉ ra những đặc điểm về nội dung phản ánh và hình thức biểu hiện của văn xuôi dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc.
- Giới thiệu những gương mặt tiêu biểu với những phong cách nghệ thuật đặc sắc.
- Khẳng định những thành tựu nổi bật và xác định những giá trị mà văn xuôi các dân tộc thiểu số đã đạt được trong nửa thế kỷ qua.
- Chỉ ra những hạn chế mà văn xuôi dân tộc thiểu số còn gặp phải, từ đó gợi mở hướng khắc phục.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình hình thành, phát triển, các đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, thành tựu của văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam trong nửa thế kỷ qua; một số vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển như bản sắc văn hóa dân tộc, mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học thành văn, tính truyền thống và hiện đại.
- Phạm vi không gian và tộc người: Tập trung vào các tác giả người dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông...) thuộc khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam (bao gồm cả hai tiểu vùng Việt Bắc và Tây Bắc).
- Phạm vi thể loại: Tập trung khảo sát hai thể loại chính là truyện ngắn và tiểu thuyết.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các sáng tác từ khoảng năm 1960 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2015).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm duyệt hệ thống tài liệu nghiên cứu đi trước theo các giai đoạn lịch sử và nhóm công trình chuyên biệt:
1. Các công trình nghiên cứu trước năm 1975
- Nông Quốc Chấn với bài viết Mấy vấn đề về văn học các dân tộc thiểu số ghi nhận sự xuất hiện của các thể ký, truyện ngắn ở dân tộc Tày, Nùng, Thái, đồng thời đề xuất xây dựng văn xuôi bằng tiếng mẹ đẻ.
- Chu Nga (1964) khẳng định tiểu thuyết Muối lên rừng của Nông Minh Châu là tác phẩm mở đầu thể loại tiểu thuyết trong văn học miền núi.
- Chu Văn Tấn với bài viết Những vấn đề về văn học nghệ thuật miền núi nhấn mạnh việc phát triển lực lượng sáng tác người dân tộc thiểu số.
- Hà Huy Giáp (Vai trò của văn học các dân tộc thiểu số trong lịch sử văn học Việt Nam) và Vũ Minh Tâm (Văn xuôi miền núi, một thắng lợi lớn trong văn học các dân tộc thiểu số) khẳng định ưu thế của truyện ngắn và truyện vừa.
- Lã Văn Lô chủ biên cuốn Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước (1973, Nxb Khoa học - Xã hội), điểm qua các tập truyện ngắn Ké Nàm, Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc, Triều Ân, Lâm Ngọc Thụ, Vi Thị Kim Bình, Nông Viết Toại.
- Nhiều tác giả với công trình Bước đầu tìm hiểu vốn Văn nghệ Việt Bắc (1974) phân tích dấu tích văn hóa dân gian trong sinh hoạt văn nghệ khu tự trị Việt Bắc.
2. Các công trình nghiên cứu từ năm 1975 đến năm 2000
- Nhiều tác giả (1976), Mấy suy nghĩ về nền văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc (Nxb Việt Bắc), tiêu biểu là bài viết của Khái Vinh phân tích sắc thái địa lý và hoàn cảnh xã hội tác động đến truyện ngắn Việt Bắc.
- Tuyển tập văn học dân tộc ít người thuộc bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1979) phân tích hình tượng con người lý tưởng qua các thời kỳ lịch sử.
- Phan Đăng Nhật (1981), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám 1945) (Nxb Văn hóa), chỉ ra quy luật ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thành văn.
- Võ Quang Nhơn (1983), Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp), nghiên cứu sự chuyển dịch từ sáng tác tập thể sang sáng tác cá nhân có tính bác học.
- Nhiều tác giả (1988), Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hóa dân tộc), tập hợp các bài viết của Phan Diễm Phương (về Vi Thị Kim Bình), Nông Quốc Thắng (về Nông Minh Châu), Hoàng Thi (về Vi Hồng), và lời bạt của Phong Lê về ưu thế của cái nhìn từ bên trong của người viết người dân tộc thiểu số.
- Nhiều tác giả (1995), 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, trong đó Phong Lê khái quát chất thơ, tính đơn giản của cốt truyện và sự làm chủ ngôn ngữ trong truyện ngắn miền núi.
- Lâm Tiến (1995), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hóa dân tộc), khảo sát đối tượng, phương pháp và diện mạo nền văn học, được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá là công trình phác thảo bao quát đầu tiên.
- Nhiều tác giả (1997), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, nhấn mạnh sự phụ thuộc của văn xuôi vào năng lực nhận thức và bản lĩnh của chủ thể sáng tạo.
- Tuyển tập Văn học dân tộc và miền núi (1998) với lời bình của Tôn Thảo Miên, Nguyễn Đăng Điệp, Văn Giá về tác phẩm của Vi Thị Kim Bình, Lò Văn Sỹ, Hoàng Hữu Sang.
- Lâm Tiến (1999), Về một mảng văn học dân tộc, phân tích nghệ thuật trần thuật và lối nói ví von trong sáng tác của Hoàng Hạc, Nông Viết Toại, Mã A Lềnh.
- Tập sách Một ngôi nhà sàn Hà Nội (1999) ghi nhận quan điểm của Nông Quốc Chấn về sáng tác bằng tiếng dân tộc và chia sẻ của Ma Văn Kháng về giọng điệu nghệ thuật.
3. Các công trình nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2015
- Lâm Tiến (2002), Văn học và miền núi (phê bình - tiểu luận), phân tích vốn văn hóa dân gian ở Vi Hồng, Hoàng Hạc, Nông Viết Toại.
- Nông Phúc Tước (2003) trong Nông Minh Châu tuyển tập đánh giá tiến trình phát triển của truyện ngắn miền núi.
- Nhiều tác giả (2004), Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam - đời và văn, khái quát chân dung Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Bùi Minh Chức, Hà Lâm Kỳ.
- Lâm Tiến và Vũ Anh Tuấn (2008) trong sách Văn học Thái Nguyên phân tích tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới và hiện tượng hiện đại hóa dân gian của Vi Hồng.
- Mai Liễu trong Hương sắc miền rừng nêu các hạn chế về tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật của tác giả người dân tộc thiểu số.
- Tập hợp tác phẩm Có thật một mảng “văn xuôi miền ngược” (2011, Nxb Văn hóa dân tộc) giới thiệu diện mạo truyện ngắn đương đại.
- Trần Thị Việt Trung và Cao Thị Hảo (2011), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại - một số đặc điểm.
- Phạm Duy Nghĩa (2012), Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi, nghiên cứu đề tài miền núi ở cả tác giả người Kinh và người dân tộc thiểu số.
- Đào Thủy Nguyên (2014), Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số, phân tích các cảm hứng thẩm mỹ truyền thống.
- Trần Thị Việt Trung và Nguyễn Đức Hạnh đồng chủ biên (2014), Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam truyền thống và hiện đại (Nxb Đại học Thái Nguyên).
- Hoàng Việt Quân (2015), Bàn để làm, khảo sát văn xuôi Yên Bái qua Hà Lâm Kỳ, Hoàng Hữu Sang, Hoàng Tương Lai.
- Các bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành của Phạm Duy Nghĩa (2008, 2009 về cốt truyện tuyến tính và chất liệu văn hóa), Cao Duy Sơn (2011, 2014 về thế hệ tác giả trẻ và thách thức của văn xuôi miền núi), Đào Thủy Nguyên, La Thúy Vân, Thy Lan, Đoàn Ngọc Minh.
- Hệ thống luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và đề tài khoa học: Luận án tiến sĩ của Phạm Duy Nghĩa (2010); đề tài cấp Bộ của Cao Thị Hảo (2012), Đào Thủy Nguyên (2013), Hà Anh Tuấn (2014); các luận văn nghiên cứu chuyên sâu về Vi Hồng (Hoàng Văn Huyên, Hà Thị Liễu, Hoàng Thị Quỳnh Ngân, Dương Thị Xuân, Ma Thị Ngọc Bích, Nguyễn Thị Thu Hiền, Hoàng Thị Minh Phương), Triều Ân (Hoàng Thị Vi, Trần Thị Hồng Nhung), Cao Duy Sơn (Đặng Thùy An, Lý Thị Thu Phương), Nông Minh Châu, Hoàng Hạc (Nguyễn Thanh Thủy).
- Kỷ yếu các hội thảo khoa học: Hội thảo về nhà văn Vi Hồng (2006, Thái Nguyên), Hoàng Triều Ân (2007, Cao Bằng), Ma Trường Nguyên (2009, Thái Nguyên), Hội thảo văn học ba tỉnh Lào Cai - Yên Bái - Tuyên Quang (2009, Sa Pa), Hội thảo khu vực trung du và miền núi phía Bắc (2011), Hội thảo văn học các dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn (2011).
4. Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát tác giả, tác phẩm đơn lẻ, nghiên cứu đề tài miền núi chung của cả người Kinh và người dân tộc thiểu số, hoặc tập trung vào từng thể loại riêng lẻ (truyện ngắn). Vẫn còn thiếu một công trình nghiên cứu hệ thống, bao quát toàn diện về lịch sử hình thành, tiến trình phát triển, diện mạo đội ngũ và đặc trưng thi pháp của bộ phận văn xuôi do chính các tác giả dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sáng tác trong suốt nửa thế kỷ (1960 - 2015). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tổng kết toàn diện trên cả hai thể loại cốt lõi là truyện ngắn và tiểu thuyết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết loại hình và tiến trình văn học: Luận án vận dụng quan điểm vận động của lịch sử văn học để xem xét sự chuyển dịch từ hình thức văn học dân gian truyền miệng sang văn học viết thành văn, cũng như sự chuyển đổi hệ hình tư duy nghệ thuật từ mô hình văn học sử thi thời chiến sang mô hình văn học thế sự - đời tư (phi sử thi) từ sau năm 1986.
- Lý thuyết thi pháp học: Khảo sát các yếu tố hình thức nghệ thuật mang tính nội dung, bao gồm thi pháp cốt truyện (cốt truyện đơn tuyến, cốt truyện phức hợp), thi pháp nhân vật (ngoại hình, môtíp truyền thống, đời sống nội tâm), và ngôn ngữ - giọng điệu trần thuật.
- Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học: Khảo sát sự tích hợp giữa các giá trị văn hóa tộc người (phong tục, tập quán, nếp nghĩ, lối cảm) với tư duy nghệ thuật hiện đại.
- Khung tiếp cận địa - văn hóa: Tiếp cận văn học từ mối quan hệ giữa không gian địa lý tự nhiên vùng miền núi phía Bắc (Việt Bắc, Tây Bắc) với tâm thức sáng tạo của cộng đồng các tộc người cư trú.
2. Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp bổ trợ sau:
- Phương pháp lịch sử: Mô tả, phân tích quá trình vận động và phát triển của văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc gắn liền với các chặng đường lịch sử xã hội của đất nước.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê danh mục tác giả, số lượng tác phẩm, thể loại (tiểu thuyết, truyện ngắn), các giải thưởng văn học để xác lập căn cứ thực chứng cho sự phát triển về quy mô.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu sáng tác của tác giả dân tộc thiểu số với tác giả người Kinh viết về miền núi; so sánh phong cách giữa các thế hệ tác giả và giữa các tộc người khác nhau (Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông) nhằm làm nổi bật đặc trưng riêng biệt.
- Phương pháp nghiên cứu thi pháp: Đi sâu vào cấu trúc văn bản tác phẩm, giải mã tư duy nghệ thuật, hệ thống biểu tượng, cấu trúc cốt truyện và nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Phương pháp liên ngành (văn hóa - địa văn hóa): Khảo sát hiện tượng văn học dưới góc nhìn văn hóa học, nhân học và địa lý văn hóa.
- Phương pháp phân tích, khái quát, tổng hợp: Đọc hiểu văn bản tác phẩm để rút ra những luận điểm khái quát về diện mạo và đặc điểm thi pháp.
3. Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Toàn bộ các tác phẩm tiểu thuyết, tập truyện ngắn, truyện ký của các tác giả dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc xuất bản từ khoảng năm 1960 đến năm 2015.
- Các tuyển tập, tổng tập văn học dân tộc thiểu số và miền núi do Hội Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ban hành.
- Các bài phê bình, tiểu luận, kỷ yếu hội thảo khoa học và các luận văn, luận án liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về văn xuôi các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam hiện đại
Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu về văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc từ trước 1975 đến nay. Tác giả phân chia thành hai mảng tài liệu: các công trình chuyên khảo, bài báo phê bình học thuật và mảng luận văn, luận án, kỷ yếu hội thảo chuyên đề.
Chương này rút ra ba nhận định cốt lõi:
- Các công trình đi trước đã bước đầu phác thảo được diện mạo văn xuôi qua các thế hệ tác giả và khẳng định những thành tựu ban đầu về nội dung, nghệ thuật.
- Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những mặt được và hạn chế cần khắc phục (cốt truyện đơn giản, chịu ảnh hưởng cơ học từ văn học dân gian, phân tích tâm lý chưa sâu).
- Đã có sự quan tâm đến vấn đề bản sắc dân tộc và quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết, song vẫn thiếu một công trình tổng kết toàn diện, có tính hệ thống cho toàn khu vực miền núi phía Bắc.
Chương 2: Khái quát về nửa thế kỷ hình thành và phát triển của văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam
Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử, sự phát triển của đội ngũ sáng tác và các vấn đề lý luận thực tiễn của văn xuôi miền núi phía Bắc qua ba chặng đường:
1. Các chặng đường phát triển
- Giai đoạn hình thành (1958 - 1965): Khởi đầu từ những truyện ngắn, bút ký phục vụ công cuộc cải cách dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi sau năm 1954. Sự kiện xuất bản tiểu thuyết Muối lên rừng (1964) của Nông Minh Châu đánh dấu sự xuất hiện của thể loại tiểu thuyết trong văn học các dân tộc thiểu số.
- Giai đoạn phát triển về tầm vóc và chất lượng (1965 - những năm 70, 80 của thế kỷ XX): Lực lượng sáng tác mở rộng trong hoàn cảnh kháng chiến chống Mỹ và xây dựng hậu phương lớn. Thể loại truyện ngắn, truyện vừa khẳng định được vị thế với các tác phẩm phản ánh tinh thần chiến đấu và sản xuất của đồng bào vùng cao.
- Giai đoạn Đổi mới (từ sau 1990 đến nay): Đánh dấu bước phát triển về số lượng và chất lượng, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn.
| Tác giả |
Dân tộc |
Thể loại |
Tác phẩm tiêu biểu (giai đoạn sau 1990) |
Số lượng/Ghi chú trong văn bản |
| Vi Hồng |
Tày |
Tiểu thuyết |
Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang (1990), Lòng dạ đàn bà (1992), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Dòng sông nước mắt (1993), Tháng năm biết nói (1994), Chồng thật vợ giả (1994), Phụ tình (1994), Đi tìm giàu sang (1995), Đọa đầy (1997) |
11 tiểu thuyết trong giai đoạn 1990 - 1997 |
| Ma Trường Nguyên |
Tày |
Tiểu thuyết, Ký |
Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992), Tình xứ mây (1993), Trăng yêu (1993), Bến đời (1995), Rễ người dài (1996), Mùa hoa hải đường (1998), Phượng hoàng núi (2012), Cơn giông thời niên thiếu (Ký, 1997) |
8 tiểu thuyết, 1 tập truyện ký |
| Triều Ân |
Tày |
Tiểu thuyết, Truyện ngắn |
Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thùy (1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000), Trên vùng mây trắng (2011); Tập truyện: Xứ sương mù (2000), Chuyện đời thường (2010) |
4 tiểu thuyết, 2 tập truyện ngắn |
| Cao Duy Sơn |
Tày |
Tiểu thuyết, Truyện ngắn |
Tiểu thuyết: Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Hoa mận đỏ (1999), Đàn trời (2006), Chòm ba nhà (2009); Tập truyện: Những chuyện ở Lũng Cô Sầu (1996), Những đám mây hình người (2002), Ngôi nhà xưa bên suối (2007), Người chợ (2010) |
5 tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn |
| Hữu Tiến |
Tày |
Tiểu thuyết, Truyện ngắn |
Tiểu thuyết: Dòng đời (2007), Hữu hạn (2012); Tập truyện: Trăng gần (1993), Ngọn suối chân rừng (1997), Đèo không lặng gió (2000), Cô gái nhặt bông gạo (2004) |
2 tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn |
| Hà Lâm Kỳ |
Tày |
Truyện ngắn |
Kỷ vật cuối cùng (1991), Chim Ri núi (1992), Gió Mù Căng (1994), Những đứa con lên núi (1994), Con trai bà Chúa Nả (1996), Quả nhạc xòe của mẹ (2006) |
6 tập truyện ngắn |
| Mã A Lềnh |
Mông |
Truyện, Ký |
Cao nguyên trắng (1992), Có một con đường (1995), Dấu chân trên đường (1996), Rừng xanh (1997), Người từ trên trời xuống (1999), Nhọc nhoài với ký (2000) |
6 tập truyện và ký |
| Bùi Thị Như Lan |
Mường |
Truyện ngắn |
Tiếng chim kỷ giàng (2004), Mùa hoa mắc mật (2005), Hoa mía (2006) |
3 tập truyện ngắn |
| Đoàn Lư |
Tày |
Truyện ngắn |
Miếng hiểm cuối cùng (1995), Trăng rừng (1996), Tướng cướp hoàn lương (1997), Kỉ niệm về một dòng sông (1997), Ngựa hoang lột xác (1998) |
5 tập truyện ngắn |
| Hoàng Quảng Uyên |
Tày |
Tiểu thuyết, Truyện, Ký |
Tiểu thuyết: Mặt trời Pác Bó (2010), Giải phóng (2013); Tập truyện và ký: Nhà thơ Thâm Tâm (1997), Thầy giáo đại học (1998), Buồn vui (1999), Vọng tiếng non ngàn (2001) |
2 tiểu thuyết, 4 tập truyện và ký |
| Vương Trung |
Thái |
Tiểu thuyết |
Mối tình Mường Sinh (1994), Đất bản quê cha (2007) |
2 tiểu thuyết |
| Địch Ngọc Lân |
Tày |
Tiểu thuyết |
Ngôi Đình Bản Chang (1999), Hoa mí rừng (2001), Mùa dứa (2003) |
3 tiểu thuyết |
| Hà Trung Nghĩa |
Tày |
Tiểu thuyết |
Lửa trong rừng sa mu (1996), Gió bụi nhân gian (2001) |
2 tiểu thuyết |
2. Đội ngũ tác giả và vấn đề thế hệ
- Văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển từ phong trào văn nghệ quần chúng, với khởi đầu của các nhà thơ (Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu), sau đó các cây bút văn xuôi người Tày đóng vai trò nòng cốt do có truyền thống văn hóa và chữ viết (chữ Nôm Tày) từ trước.
- Sự tiếp nối qua các thế hệ: Thế hệ tiền bối đặt nền móng (Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Triều Ân); thế hệ trưởng thành và khẳng định phong cách trong thời kỳ Đổi mới (Cao Duy Sơn, Ma Trường Nguyên, Mã A Lềnh, Hữu Tiến, Bùi Thị Như Lan, Vương Trung, Hà Lâm Kỳ); và lớp tác giả trẻ xuất hiện sau Đổi mới (Vi Thị Thu Đạm, Bế Mạnh Đức, Lục Mạnh Cường, Nông Quốc Lập, Triệu Hoàng Giang, Hoàng Chiến Thắng...).
3. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa tộc người và thi pháp hiện đại.
- Thách thức thực tiễn: sự già hóa đội ngũ, sự thiếu vắng tác giả ở một số dân tộc ít người, vấn đề sáng tác bằng chữ viết dân tộc và nguy cơ phai nhạt sắc thái văn hóa trong nền kinh tế thị trường.
Chương 3: Bối cảnh cuộc sống và hình tượng con người trong văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (từ 1960 đến nay)
Chương 3 đi sâu phân tích hai bình diện nội dung cốt lõi:
1. Hiện thực cuộc sống đồng bào dân tộc
- Hiện thực lịch sử và cách mạng: Tái hiện các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, xây dựng hậu phương miền núi qua cảm hứng sử thi trong các tác phẩm như Gió Mù Căng (Hà Lâm Kỳ), Ngôi đình bản Chang (Địch Ngọc Lân), Mặt trời Pác Bó, Giải phóng (Hoàng Quảng Uyên).
- Hiện thực đời sống sinh hoạt, phong tục: Không gian văn hóa bản làng, phong tục tập quán lâu đời của người Tày, Thái, Mông, Mường (hội lượn, hát then, lễ hội, luật tục hôn nhân) được phản ánh sinh động trong Đất bản quê cha (Vương Trung), Tiếng chim kỷ giàng (Bùi Thị Như Lan).
- Hiện thực thời kỳ kinh tế thị trường: Phản ánh công cuộc xóa đói giảm nghèo, định canh định cư (Bến đời, Cao nguyên trắng), đồng thời trực diện phơi bày các mảng tối xã hội: sự tha hóa đạo đức của cán bộ thoái hóa biến chất (Đàn trời của Cao Duy Sơn, Trước dòng sông của Hữu Tiến, Sói mặt người của Cầm Hùng), sự xâm nhập của lối sống thực dụng, suy đồi luân lý gia đình (Vào hang, Chồng thật vợ giả của Vi Hồng, Dòng đời của Hữu Tiến).
2. Hình tượng nhân vật và sự chuyển dịch quan niệm nghệ thuật về con người
- Hình tượng con người miền núi truyền thống: Những phẩm chất mộc mạc, thuần phác, kiên cường chống chọi với tự nhiên và ngoại xâm, thủy chung, giàu tình nghĩa cộng đồng.
- Con người cá nhân trong các mối quan hệ thế sự và đời tư: Chuyển đổi từ kiểu con người sử thi, một chiều sang kiểu con người đa diện, lưỡng diện, có mâu thuẫn nội tâm phức tạp:
- Hình tượng người trí thức: Xuất hiện trong Người trong ống, Gã ngược đời của Vi Hồng.
- Bi kịch thân phận cá nhân và nỗi đau hậu chiến: Hình ảnh thương binh, bệnh binh mang di chứng chất độc da cam, người lính trở về gặp cảnh gia đình tan vỡ, phụ nữ chịu bất hạnh trong hôn nhân nhưng âm thầm chịu đựng vì danh dự và lòng vị tha trong các truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan (Mùa mác mật, Sau lời hát sli, Gió hoang, Lời sli vắt ngang núi).
- Sự tha hóa và vật lộn nhân tính: Các nhân vật bị đẩy vào vòng xoáy tiền tài, tham vọng và phải trả giá trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Hữu Tiến.
Chương 4: Bản sắc riêng của văn xuôi các dân tộc miền núi trong hình thức và ngôn ngữ tự sự
Chương 4 khảo sát các đặc điểm thi pháp nghệ thuật:
1. Sự vận động của cốt truyện
- Cốt truyện đơn tuyến và dấu vết lối kể truyền miệng: Trần thuật theo dòng thời gian tuyến tính, quan hệ nhân quả rõ ràng, kết cấu đơn giản gần gũi với truyện cổ tích dân gian (như trong truyện của Bùi Minh Chức, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn giai đoạn đầu với Hoa bay cuối trời), giúp người đọc miền núi dễ tiếp nhận.
- Cốt truyện phức hợp đa tuyến mang dấu ấn hiện đại: Phát triển trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới với kết cấu đa tầng bậc, thời gian đảo lộn, đan xen quá khứ - hiện tại, kết hợp nhiều tuyến nhân vật song song và kết thúc mở hoặc bi kịch không có hậu (Đàn trời, Người lang thang của Cao Duy Sơn; Dòng đời của Hữu Tiến; Dặm ngàn rong ruổi của Triều Ân).
2. Phương thức xây dựng nhân vật
- Miêu tả nhân vật thiên về ngoại hình, hành động cụ thể, phản ánh lối tư duy trực cảm của đồng bào dân tộc thiểu số.
- Vận dụng các môtíp truyền thống: môtíp đối lập thiện - ác rạch ròi (trong tiểu thuyết Vi Hồng), môtíp tình yêu đôi lứa không lấy được nhau bắt nguồn từ truyện thơ Thái, Tày (Đất bản quê cha của Vương Trung).
- Khám phá đời sống nội tâm: Tác giả trao quyền tự bộc lộ cho nhân vật thông qua dòng độc thoại nội tâm, diễn tả những dằn vặt, sang chấn tinh thần (Lời sli vắt ngang núi của Bùi Thị Như Lan, Gốc gội xù xì của Hà Thị Cẩm Anh).
3. Ngôn ngữ tự sự và giọng điệu
- Ngôn ngữ giàu tính tạo hình: Vận dụng lối nói ví von, so sánh cụ thể bằng hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của đồng bào miền núi ("cách nói của người Tày, Nùng, Mông").
- Các biện pháp nghệ thuật: Sự thâm nhập của chất thơ, chất dân ca (lời sli, câu lượn, then) vào văn xuôi; sự phối hợp giữa giọng điệu trần thuật mộc mạc, trữ tình với chất triết lý nhân sinh; việc sử dụng từ ngữ địa phương và thành ngữ, tục ngữ dân tộc tạo nên sắc thái thẩm mỹ đặc thù.
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
- Tính hệ thống và toàn diện: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên về tiến trình phát triển nửa thế kỷ của văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến 2015 trên cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết.
- Đánh giá khách quan diện mạo văn học: Đưa ra các nhận định khoa học về thành tựu và chỉ ra các chặng đường phát triển từ tự phát sang tự giác, từ mô hình sử thi sang mô hình thế sự - đời tư.
- Làm rõ đặc trưng thi pháp: Xác lập các đặc điểm nội dung phản ánh (hiện thực lịch sử, đời sống phong tục, biến động kinh tế thị trường, số phận cá nhân) và nghệ thuật tự sự (cốt truyện từ đơn tuyến đến phức hợp, nghệ thuật khắc họa nhân vật, ngôn ngữ tạo hình giàu chất dân gian).
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận chuyên biệt: Bước đầu giải quyết các vấn đề về bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người, mối quan hệ hữu cơ giữa văn học dân gian và văn học thành văn, sự dung hợp giữa truyền thống và hiện đại trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn dân tộc thiểu số.
- Giá trị ứng dụng: Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu học phần văn học các dân tộc thiểu số tại các trường đại học, cao đẳng và hệ thống trường phổ thông.
2. Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Cần có chính sách bồi dưỡng, phát hiện và đào tạo lực lượng sáng tác trẻ người dân tộc thiểu số nhằm giải quyết tình trạng già hóa đội ngũ và tạo lực lượng kế cận đồng đều giữa các tộc người.
- Khuyến khích các nhà văn dân tộc thiểu số nâng cao bản lĩnh tư tưởng, vốn sống và kỹ thuật tự sự hiện đại, thâm nhập sâu vào các xung đột phức tạp của đời sống xã hội đương đại để tạo ra các tác phẩm dài hơi, tránh lối miêu tả bề mặt hoặc lặp lại cách nói ví von đơn điệu.
- Đẩy mạnh việc sáng tác, dịch thuật và xuất bản song ngữ (tiếng dân tộc thiểu số và tiếng phổ thông) để bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ và mở rộng phạm vi tiếp nhận của độc giả cả nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
1. Hạn chế
- Luận án tập trung khảo sát văn xuôi khu vực miền núi phía Bắc (chủ yếu là vùng Việt Bắc và Tây Bắc với các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông), chưa bao quát toàn bộ văn xuôi của các vùng dân tộc thiểu số khác như Tây Nguyên hay Tây Nam Bộ.
- Về mặt thể loại, công trình tập trung chủ yếu vào truyện ngắn và tiểu thuyết; các thể loại văn xuôi phi hư cấu như bút ký, phóng sự, hồi ký hoặc kịch bản văn học chưa được khảo sát sâu.
- Sự phân bố tư liệu giữa các dân tộc có sự chênh lệch do số lượng tác giả và tác phẩm của dân tộc Tày chiếm tỷ lệ áp đảo so với các dân tộc ít người khác trong khu vực.
2. Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc với văn xuôi dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên và Nam Bộ nhằm xây dựng một bức tranh hoàn chỉnh về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về mảng sáng tác văn xuôi bằng chữ viết dân tộc (tiếng Tày - Nùng, chữ Thái cổ, v.v.) trong sự đối sánh với các tác phẩm viết bằng tiếng Việt.
- Tiếp tục theo dõi, cập nhật và đánh giá những chuyển biến thi pháp của thế hệ tác giả trẻ người dân tộc thiểu số trong bối cảnh công nghệ thông tin và toàn cầu hóa hiện nay.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Văn hóa học, Việt Nam học: Luận án cung cấp hệ thống thư mục tác giả, tác phẩm văn xuôi miền núi phía Bắc được thống kê chi tiết, cùng khung phân tích thi pháp học để triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
- Đối với giảng viên đại học, cao đẳng và giáo viên phổ thông: Cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các chuyên đề văn học dân tộc thiểu số, văn học địa phương và các tác giả tiêu biểu như Tô Hoài, Nông Minh Châu, Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Bùi Thị Như Lan.
- Đối với các nhà quản lý văn hóa và Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số: Cung cấp căn cứ khoa học để hoạch định chính sách phát triển đội ngũ sáng tác, định hướng bồi dưỡng các cây bút trẻ và bảo tồn di sản văn hóa ngôn từ vùng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Công trình nào được xác định là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học miền núi Việt Nam hiện đại?
Tiểu thuyết Muối lên rừng của nhà văn Nông Minh Châu (dân tộc Tày), xuất bản năm 1964, được giới nghiên cứu (tiêu biểu là Chu Nga, 1964) khẳng định là cuốn tiểu thuyết đầu tiên mở đầu cho thể loại tiểu thuyết trong văn học miền núi Việt Nam.
2. Tỷ lệ đóng góp giữa tác giả người Kinh và tác giả dân tộc thiểu số trong văn xuôi miền núi thế kỷ XX được ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu thống kê của nhà nghiên cứu Lâm Tiến trong Tuyển tập văn xuôi dân tộc và miền núi thế kỷ XX được luận án dẫn lại, số lượng các nhà văn người Kinh viết về dân tộc và miền núi chiếm khoảng 30%, trong khi 70% còn lại là các tác giả người dân tộc thiểu số.
3. Giai đoạn Đổi mới (từ sau 1990) ghi nhận những thành tựu nổi bật nào về số lượng tiểu thuyết của các tác giả dân tộc thiểu số?
Giai đoạn này chứng kiến sự bùng nổ số lượng tiểu thuyết: Vi Hồng xuất bản 11 tiểu thuyết trong giai đoạn 1990 - 1997 (Người trong ống, Gã ngược đời, Vào hang...); Ma Trường Nguyên xuất bản 8 tiểu thuyết (Mũi tên ám khói, Gió hoang, Mùa hoa hải đường...); Cao Duy Sơn xuất bản 5 tiểu thuyết (Người lang thang, Đàn trời...); Triều Ân xuất bản 4 tiểu thuyết (Nắng vàng bản Dao, Dặm ngàn rong ruổi...); cùng các tác phẩm của Vương Trung, Hữu Tiến, Địch Ngọc Lân, Hoàng Quảng Uyên.
4. Tư duy nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi dân tộc thiểu số có sự chuyển biến như thế nào từ sau năm 1986?
Văn xuôi có bước chuyển từ mô hình văn học sử thi thời chiến (tập trung vào kiểu nhân vật anh hùng, con người mới xã hội chủ nghĩa mang tính một chiều) sang mô hình thế sự - đời tư. Các nhà văn tập trung khám phá con người cá nhân đa diện, lưỡng diện, đối diện với bi kịch đời thường, sự tha hóa đạo đức trong cơ chế thị trường, nỗi đau hậu chiến, đồng thời trao quyền cho nhân vật tự bộc lộ thế giới nội tâm.
5. Luận án chỉ ra ưu điểm và hạn chế phổ biến trong ngôn ngữ tự sự của văn xuôi miền núi là gì?
Ưu điểm là việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh tạo hình, vận dụng lối nói ví von, so sánh cụ thể sát hợp với tư duy trực cảm của đồng bào dân tộc thiểu số. Hạn chế xuất hiện khi người viết lạm dụng cách nói ví von này quá mức hoặc lặp lại cơ học, khiến lời văn trở nên gượng gạo và câu chuyện có phần đơn điệu.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Cao Thị Thu Hoài là công trình nghiên cứu hệ thống về nửa thế kỷ hình thành và phát triển của văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến năm 2015. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, thi pháp học và tiếp cận liên ngành địa văn hóa, công trình đã làm sáng tỏ diện mạo, tiến trình vận động, các thế hệ tác giả cùng những đặc trưng cơ bản về nội dung phản ánh và nghệ thuật tự sự của thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Luận án khẳng định những đóng góp của các cây bút dân tộc thiểu số trong việc phản ánh chân thực bản sắc văn hóa tộc người và chuyển đổi tư duy nghệ thuật hiện đại, đồng thời chỉ ra những hạn chế thực tiễn cần khắc phục. Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng thiết thực trong công tác đào tạo, nghiên cứu văn học và bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.