đặt vấn đề xem xét, nghiên cứu về dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX, cụ thể hơn là trong quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại thế kỷ XX. Đầu thế kỷ XX, truyện ngắn dân tộc viết bằng Quốc ngữ đƣợc đánh dấu bởi sáng tác của nhiều tác giả nhƣ: Phan Kế Bính, Tản Đà, Nguyễn Phƣơng Chánh, Tam Lang, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Ái Quốc, Trần Quang Nghiệp, Huỳnh Minh Phụng, … Những truyện ngắn trong thời kỳ này thƣờng đƣợc viết với lối viết biến nhân vật thành ngƣời phát ngôn tƣ tƣởng chủ quan của nhà văn, đối thoại dài dòng, ngôn ngữ ƣớc lệ, khuôn sáo, biền ngẫu, kết thúc có hậu… Bƣớc sang thập kỷ 30, truyện ngắn khởi sắc và nhanh chóng trở thành một thể loại mạnh, thực sự chiếm lĩnh văn đàn. Trong vòng mƣời lăm năm từ 1930 đến 1945, số truyện ngắn đăng rải rác trên các báo chí và xuất bản thành tập riêng chắc phải hàng ngàn. Riêng nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có khoảng 250 truyện ngắn.
Công chúng trở nên quen thuộc với tên tuổi của hàng loạt nhà văn nhƣ Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân, … Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét truyện ngắn thời kỳ này thật sự phong phú, đặc sắc, đa dạng, đa dạng về khuynh hƣớng thẩm mỹ, về phong cách, về bút pháp, về đề tài, màu sắc địa phƣơng… Văn đàn dần hình thành nên những dòng truyện ngắn khác 20 nhau, tuỳ thuộc vào sự nhận thức về hiện thực cuộc sống, quan niệm thẩm mỹ, phong cách sáng tác của tác giả. Có những truyện ngắn nghiêng về phản ánh, phê phán hiện thực cuộc sống đầy áp bức bất công,… nhƣ các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Ngô Tất Tố,…; có những truyện ngắn nghiêng về phân tích đời sống tâm hồn con ngƣời nhƣ các tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Bùi Hiển, Đỗ Tốn,… Dòng truyện ngắn trữ tình đƣợc hình thành từ các tác phẩm đƣợc viết theo phong cách trữ tình, nghiêng về phân tích đời sống tâm hồn con ngƣời của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Xuân Diệu,… Sự thành công của truyện ngắn đã khẳng định ƣu thế vƣợt trội của thể loại này trong nền văn học nƣớc nhà. Sau 1945, truyện ngắn Việt Nam bƣớc sang một kỷ nguyên mới do sự ảnh hƣởng của những biến động về chính trị, xã hội. Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một thời đại mới với nhịp sống khẩn trƣơng, nhân dân đƣợc giải phóng và vƣơn lên làm chủ số phận mình.
Hàng loạt truyện ngắn ra đời là những thiên truyện đầy ắp hơi thở cuộc sống và không khí thời đại, phản ánh cuộc kháng chiến gian khổ nhƣng hào hùng của nhân dân. Bên cạnh các nhà văn đã thành danh từ trƣớc cách mạng, xuất hiện một lớp nhà văn mới, trẻ tuổi, trƣởng thành trong cuộc kháng chiến nhƣ Trần Đăng, Hồ Phƣơng, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khải,… Truyện ngắn thời kỳ này đƣợc đánh giá là mang tính chất “phong trào”. Sang giai đoạn 1955-1975, truyện ngắn đã có thêm tác giả và một số phong cách tiêu biểu nhƣ Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Vũ Thị Thƣờng, Lê Minh Khuê,… Bên cạnh những truyện ngắn hay viết về những khoảnh khắc tiêu biểu của 21 cuộc sống trong chiến tranh là những truyện ngắn đi theo một khuynh hƣớng mới, truyện ngắn-thơ của Nguyễn Thành Long với Lặng lẽ Sapa, Nguyên Ngọc với Rẻo cao, Đỗ Chu với Hương cỏ mật, Ma Văn Kháng với Khúc hát Mèo… Ma Văn Kháng nói: “Truyện ngắn phải có cái gì bay bay một tí, không nên mơ màng quá, mà trần trụi quá cũng không ổn” (dẫn theo Bùi Việt Thắng) [15,197]. Những truyện ngắn-thơ giai đoạn này đƣợc viết nên từ chất liệu do cuộc sống kháng chiến cung cấp về cái đẹp, cái nên thơ, cái anh hùng và cái phi thƣờng, với một ngôn ngữ trong sáng và thấm đẫm chất thơ.
Không khí nghệ thuật bao trùm trong Lặng lẽ Sa Pa là một không khí lặng lẽ, mơ màng và sâu lắng. Sa Pa đẹp đến nao lòng ngƣời: “Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ƣớt sƣơng, rơi xuống đƣờng cái, luồn cả vào gầm xe”. Truyện ngắn sau 1975 đến 1985 đi vào phân tích hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh. Đời sống tinh thần của con ngƣời sau chiến tranh với những nỗi cô đơn, sự đau khổ về thể xác và tinh thần, sự hoài nghi giữa trung thành và phản bội, những cảnh ngộ và số phận con ngƣời đƣợc chú ý khai thác nhiều bởi các nhà văn Nguyễn Minh Châu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), Nguyễn Quang Thân (Người không đi cùng chuyến tàu), Lê Hoàng (Lời cuối trong kịch bản)… Truyện ngắn cuối thế kỷ XX xuất hiện một loạt tên tuổi mới với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Hảo, Phạm Ngọc Tiến, Lƣu Sơn Minh… Đề tài, nội dung phản ánh, cách viết, hình thức truyện phong phú, đa dạng, có nhiều tìm tòi, phát hiện mới.
Mỗi tác giả đều tạo đƣợc cho mình một ấn tƣợng 22 khá riêng biệt với độc giả. Cuộc sống hiện thực hằng ngày, những ẩn ức trong đời sống tinh thần con ngƣời (đặc biệt là phụ nữ), những ám ảnh sau chiến tranh, sự vật lộn trong cuộc sống mới theo cơ chế thị trƣờng, sự trăn trở kiếm tìm những giá trị sống mới… tất cả đều đƣợc đƣa vào các trang viết. Nổi lên nhƣ một hiện tƣợng đặc biệt của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX, bên cạnh những truyện ngắn gây xôn xao văn đàn vì khả năng phản ánh thực trạng tha hoá của con ngƣời trong một xã hội có nhiều phức tạp nhƣ Tướng về hưu, Không có vua, Những người thợ xẻ,… Nguyễn Huy Thiệp còn có một mạch văn quan trọng khác đầy chất lãng mạn và trữ tình với Con gái thuỷ thần, Chảy đi sông ơi, Thương nhớ đồng quê, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt,… Cùng một mạch văn theo phong cách trữ tình thời kỳ này là các truyện ngắn của Đỗ Chu (Hoạ mi đang hót), Nguyễn Bản (Ánh trăng), Linh Vang (Mưa trên nỗi buồn, Và mưa vẫn rơi, Một nhành lan),… Truyện ngắn của Linh Vang thƣờng có một nỗi buồn lan toả khắp mỗi câu mỗi chữ, nỗi buồn của tình yêu không thành, không tới hoặc có tới cũng ngậm ngùi, đƣợc viết với một phong cách trữ tình đằm thắm. Truyện của chị giàu chất đời, nhƣng không chỉ đơn thuần là những truyện tả chân, ở đây, tác giả đã bứt lên đƣợc trên cái có thực đến tận cùng để tìm ra một cái gì đó cao hơn của con ngƣời, đó là đời sống tâm hồn vốn rất không rõ ràng rành mạch, vốn bí ẩn khó giải thích rạch ròi bằng lý trí.
“Tôi dừng xe ở một khu ƣơm bán cây kiểng, bông hoa, tản một vòng, lựa mua một chậu lan. Chỉ là một nhánh lan mỏng manh bé nhỏ chƣa ra hoa. Tôi muốn chăm sóc lan cho tới ngày nhìn thấy lan nở hoa, thấy đƣợc màu tím của hoa” (Một nhành lan)… 23 Nhìn qua những nét phác thảo về sự phát triển của truyện ngắn thế kỷ XX, có thể thấy vẫn tồn tại một mạch truyện ngắn theo phong cách trữ tình. Mạch truyện ngắn này khởi nguồn từ giai đoạn 1930-1945, chững lại và gần nhƣ không phát triển ở giai đoạn 1945-1955 (giai đoạn này truyện ngắn theo phong cách sử thi, truyện ký phát triển mạnh), bắt đầu lại ở một số tác phẩm nghiêng nhiều về truyện ngắn-thơ hơn ở giai đoạn 1955-1975- 1985, và lại phát triển mạnh ở cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI này với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Chu, Nguyễn Bản, Nguyễn Ngọc Tƣ, Linh Vang, Mai Ninh, … Sở dĩ chúng tôi cho rằng mạch truyện này vẫn tồn tại và có xu hƣớng phát triển mạnh vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là bởi nó đáp ứng đƣợc những tiêu chí đặc trƣng của dòng truyện ngắn trữ tình: tính phi cốt truyện, sự bộc lộ chủ thể ở mức độ cao, cấu trúc tác phẩm lỏng lẻo, hƣớng tới thiên nhiên, … Một trong những nhà văn trẻ viết truyện ngắn theo phong cách trữ tình đang đƣợc dƣ luận đặc biệt chú ý trong những năm gần đây là Nguyễn Ngọc Tƣ.
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ dịu dàng, đằm thắm, không ồn ào lên gân mà đi sâu vào phân tích tâm lý con ngƣời một cách nhẹ nhàng, sắc sảo, tinh tế. Nhân vật của chị là những con ngƣời bình dị, chân chất trong cuộc sống, với những mối tình đẹp, buồn và dƣờng nhƣ không có thật của cuộc đời này. Đó là những mối tình mộc mạc, chân thành và dung dị nhƣ chính ngƣời dân vùng đồng bằng Nam bộ. Truyện của chị trăn trở trong những nỗi nhớ quê hƣơng: Dòng nhớ, Qua cầu nhớ người, Nhớ sông, Nước chảy mây trôi, … và những mối tình đẹp: Hiu hiu gió bấc, Thương quá rau răm, Chiều vắng, Huệ lấy chồng, Mối tình năm cũ,… 24 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ đem đến cho ngƣời đọc một cảm giác thƣ thái, an bình, bị cuốn hút bởi mạch truyện và văn phong êm dịu, nhẹ nhàng nhƣng không hề nhàm chán.
Mỗi câu văn nhƣ một lời thủ thỉ, tâm tình đầy quyến rũ nhƣ những câu thơ đƣợc viết bằng văn xuôi. NHỮNG GƢƠNG MẶT TIÊU BIỂU TẠO NÊN DÕNG TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH 1930-1945 Với sự ảnh hƣởng đặc biệt về phong cách viết của mình đối với một số nhà văn khác cùng giai đoạn, có thể nói Thạch Lam (sinh năm 1910, mất năm 1942, tên thật là Nguyễn Tƣờng Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tƣờng Lân) là ngƣời khởi xƣớng một cách không chính thức, đồng thời cũng là đại diện tiêu biểu của dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945. Truyện của Thạch Lam đem đến cho văn xuôi đƣơng thời một cách cảm thụ tinh vi, bình dị, mới mẻ, đầy khám phá đối với thế giới nội tâm của con ngƣời. Ông đặc biệt tinh tế khi phát hiện, phân tích những biến thái nhỏ nhất của tâm hồn.
Thạch Lam thƣờng khai thác chất thơ trong đời sống hằng ngày. Ông quan tâm, phơi bày đời sống nội tâm tinh tế, phong phú của nhân vật hơn là những biến cố, sự kiện bề ngoài hay những xung đột giàu kịch tính. Truyện của ông thƣờng mang yếu tố phi cốt truyện, loại truyện không có truyện. Hai đứa trẻ không hề có hành động phát triển xung đột, mà chỉ toát lên một tâm trạng, một không khí.
Nó chỉ là câu chuyện kể lại cái cảnh hai chị em ngồi trông một ngôi hàng tạp hoá nghèo nàn trong một buổi tối nhƣ bao buổi tối khác.