Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Sư phạm Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Sen (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, khóa 2014 – 2018, người hướng dẫn: PGS. Trần Văn Sáng) tập trung nghiên cứu đề tài: "Khảo sát câu đơn trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu trúc thông tin". Lý do chọn đề tài xuất phát từ ba căn cứ thực tiễn và khoa học được tác giả trình bày:
- Thứ nhất, trong nghiên cứu ngôn ngữ, câu là đơn vị ngữ pháp trung tâm của cú pháp học và là phương tiện giao tiếp, tạo văn bản cơ bản trong đời sống. Việc tiếp cận câu theo bình diện cấu trúc thông tin (CTTT) giúp làm rõ cách thức người nói phân đoạn phát ngôn theo vị thế thông tin, từ đó hỗ trợ nhận diện và nâng cao hiệu quả diễn đạt tư duy.
- Thứ hai, tác giả Hồ Anh Thái là cây bút nổi bật của văn học Việt Nam đương đại với lối viết trẻ trung, hiện đại và có nhiều tìm tòi, phát kiến về mặt ngôn ngữ. Trong đó, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (viết năm 1996, xuất bản lần đầu năm 2002) là tác phẩm thể hiện sự đa dạng, độc đáo về ngôn ngữ nghệ thuật và tổ chức câu văn, song các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ phê bình văn học mà ít đào sâu vào bình diện ngôn ngữ học thực nghiệm.
- Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông. Trong nhà trường, học sinh chủ yếu mới tiếp cận các mô hình câu theo ngữ pháp truyền thống, do đó việc nghiên cứu câu trên bình diện CTTT sẽ cung cấp thêm cơ sở ngữ liệu và phương pháp phân tích câu đa diện hơn cho quá trình giảng dạy.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 3 nhiệm vụ:
- Khảo sát, thống kê số lượng các câu đơn xuất hiện trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế từ bình diện cấu trúc thông tin (giới hạn trên lời thoại của nhân vật).
- Phân tích, chỉ ra các hình thức và phương tiện đánh dấu tiêu điểm thông tin trong các cấu trúc câu đơn đã thu thập.
- Nêu lên ý nghĩa và giá trị biểu đạt của việc đánh dấu tiêu điểm thông tin trong ngữ cảnh giao tiếp của tác phẩm.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống câu đơn tiếng Việt được xem xét từ bình diện cấu trúc thông tin dựa trên cơ sở lý thuyết của các nhà Việt ngữ học.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn phạm vi ngữ liệu ở các câu đơn xuất hiện trong lời thoại của nhân vật thuộc văn bản tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của nhà văn Hồ Anh Thái, theo ấn bản do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2003 (tác phẩm dày hơn 250 trang).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên sự đối sánh giữa các trường phái ngữ pháp và ngữ dụng học:
- Về ngữ pháp học truyền thống: Tác giả dẫn xuất quan niệm về câu đơn hai thành phần (Chủ ngữ – Vị ngữ) và câu đơn một thành phần (câu đặc biệt) từ các tài liệu của Phan Thiều, Nguyễn Kỳ Thục, Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim Thản, Hữu Quỳnh và Ủy ban Khoa học Xã hội. Bên cạnh đó, tác giả nhắc tới mô hình vị từ – tham thể của L. Tesnière và C. Hagège.
- Về ngữ pháp chức năng: Tác giả tiếp thu cách phân tích câu theo cấu trúc Đề – Thuyết (bậc một, nhiều bậc và câu không đề).
- Về lý thuyết cấu trúc thông tin (CTTT): Tác giả điểm duyệt lịch sử nghiên cứu từ lý thuyết phân đoạn thực tại của V. Mathesius (1929, Trường phái Praha) với các khái niệm điểm xuất phát/cơ sở (theme) và hạt nhân (rheme), tiếp nối qua J. Firbas, M. A. K. Halliday, O. Dahl, W. Chafe (khái niệm "đóng gói thông tin"), R. Dooley (hạt nhân dụng pháp) và K. Lambrecht. Tại Việt Nam, khóa luận phân loại hai khuynh hướng chính: khuynh hướng đồng nhất CTTT với cấu trúc Đề – Thuyết (Panfilov, Trần Ngọc Thêm, Lý Toàn Thắng, Diệp Quang Ban) và khuynh hướng phân định độc lập CTTT ở bình diện dụng học với cấu trúc cú pháp Đề – Thuyết (Cao Xuân Hạo, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Hồng Cổn).
- Khung lý thuyết ứng dụng trực tiếp: Tác giả đồng tình và vận dụng mô hình của Nguyễn Hồng Cổn và Đào Thị Thanh Huyền. Theo mô hình này, CTTT của câu gồm hai bộ phận: Cơ sở (background - CS) và Tiêu điểm thông tin (information focus - TĐTT/TĐ). Tiêu điểm thông tin là thành tố giữ chức năng làm nổi bật về mặt thông tin, không nhất thiết lúc nào cũng đồng nhất hoàn toàn với thông tin mới (TTM) hay cấu trúc Đề – Thuyết, mà phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp cụ thể (chẳng hạn như trường hợp đại từ để hỏi hoặc thành tố được nhấn mạnh).
- Các phương tiện nhận diện tiêu điểm thông tin: Tác giả hệ thống hóa 4 nhóm dấu hiệu:
- Hình thức trình bày ngôn ngữ: Dấu câu (dấu ngoặc kép, ba chấm, gạch nối), cách viết hoa, cỡ chữ, kiểu chữ in nghiêng/in đậm.
- Hiện tượng ngôn điệu: Trọng âm cường điệu, ngữ điệu, khoảng lặng/ngắt giọng.
- Phương tiện từ vựng: Từ hồi chỉ (lại), từ khứ chỉ (thêm); trợ từ tình thái (à, ư, hả, đi, thôi, mà, đấy) và trợ từ nhấn mạnh (chính, những); phó từ chỉ thời gian hoặc tiếp diễn (đã, sẽ, đang, vừa, mới, cũng, còn, cứ, lại, vẫn).
- Hình thức câu: Hiện tượng tỉnh lược (lược bỏ phần cơ sở, giữ lại tiêu điểm) và trật tự từ (tiền đảo đưa tiêu điểm lên đầu, hậu đảo chuyển tiêu điểm về sau).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Thủ pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Thu thập toàn bộ các câu đơn trong lời thoại nhân vật, lập danh mục và phân loại theo các mô hình vị trí tiêu điểm.
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Kết hợp thao tác phân tích thành tố cú pháp và phân tích ngữ cảnh đối thoại để xác định vị thế thông tin, lập mô hình CTTT và đánh giá giá trị diễn đạt.
- Nguồn dữ liệu: 305 câu đơn trích xuất trực tiếp từ các lượt đối thoại trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái, NXB Đà Nẵng, 2003).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề có liên quan
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tiền đề lý thuyết về câu đơn và cấu trúc thông tin, đồng thời giới thiệu bối cảnh tác giả và tác phẩm:
- Mục 1.1 làm rõ các quan niệm về câu đơn dưới góc độ ngữ pháp truyền thống (phân chia nòng cốt C–V, câu hai thành phần, câu một thành phần), cấu trúc vị từ – tham thể và cấu trúc Đề – Thuyết trong ngữ pháp chức năng; phân tích lịch sử tranh luận về CTTT giữa các nhà ngôn ngữ học quốc tế và Việt Nam. Tác giả xác lập quan điểm nghiên cứu coi CTTT là bình diện độc lập, vận dụng các khái niệm: thông tin cũ (TTC), thông tin mới (TTM), cơ sở (CS), tiêu điểm thông tin (TĐTT), cùng hệ thống dấu hiệu nhận biết TĐTT qua hình thức chữ viết, ngôn điệu, từ vựng và trật tự câu.
- Mục 1.2 giới thiệu tiểu sử tác giả Hồ Anh Thái (sinh ngày 18/10/1960 tại Hà Nội, quê quán xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; tốt nghiệp Đại học Quan hệ Quốc tế năm 1983; Tiến sĩ Văn hóa phương Đông; nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội giai đoạn 2000–2010), cùng sự nghiệp sáng tác với các tác phẩm tiêu biểu (Người và xe chạy dưới ánh trăng, Người đứng một chân, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Đức Phật, nàng Savitri và tôi, SBC là săn bắt chuột...).
- Tác giả phân tích nội dung tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế: Cốt truyện xoay quanh nhân vật "Tôi" (một thuyền trưởng tàu viễn dương) chứng kiến chuỗi cái chết kỳ lạ của ba người cháu/bạn thân gồm Cốc, Bóp, Phũ – những thanh niên thượng lưu sống buông thả – sau khi tìm cách hãm hại cô gái tên Mai Trừng. Hành trình điều tra đưa nhân vật "Tôi" tìm về quá khứ chiến tranh, giải mã lời nguyền gắn liền với cái tên Mai Trừng và thông điệp cảnh tỉnh về sự trừng phạt cái ác, lòng sám hối cùng triết lý nhân quả mang màu sắc Phật giáo.
Chương 2: Khảo sát câu đơn trong tác phẩm “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu trúc thông tin
Chương 2 trình bày kết quả phân loại định lượng và miêu tả ngữ nghĩa – ngữ dụng của 305 câu đơn lời thoại dựa theo tiêu chí vị trí của tiêu điểm thông tin (theo phân loại của Nguyễn Hồng Cổn):
- Mô hình CTTT lưỡng phân cơ sở – tiêu điểm: Chiếm tỷ lệ cao nhất với 193 câu (63,3% tổng số câu đơn khảo sát).
- Trình tự thuận (CS – TĐ): Chiếm 171 câu (56,2% theo bảng thống kê; 56,1% theo văn bản). Tác giả chỉ ra 133 câu (43,6%) có mô hình CS – TĐ trùng khít với cấu trúc Đề – Thuyết của câu khi tiêu điểm rơi trọn vẹn vào phần thuyết; và 38 câu (12,5%) có CS – TĐ không hoàn toàn trùng với Đề – Thuyết do tiêu điểm chỉ chiếm một bộ phận nhỏ trong phần thuyết.
- Trình tự nghịch (TĐ – CS): Chiếm 22 câu (7,2%), xuất hiện phổ biến trong các phát ngôn nghi vấn có từ để hỏi đứng đầu câu ("Sao tự tiện vào phòng tôi?", "Chuyện gì xảy ra với ba đứa chúng nó?") hoặc các phát ngôn mang tính mệnh lệnh, nhấn mạnh nội dung yêu cầu ("Tắm đi đã, người đầy than kia kìa").
- Mô hình CTTT xen kẽ cơ sở và tiêu điểm thông tin:
- Cấu trúc CS – TĐ – CS: Chiếm 53 câu (17,4%). Trong đó, có 13 câu (4,3%) tiêu điểm thông tin trùng với một bộ phận của đề, và 40 câu (13,1%) tiêu điểm thông tin trùng với một bộ phận của thuyết.
- Cấu trúc TĐ – CS – TĐ: Chiếm 5 câu (1,6%), phần cơ sở đứng xen giữa hai tiêu điểm thông tin ("Hay là nhờ anh// mai táng cho cháu ở Văn Điển").
- Mô hình CTTT chỉ có tiêu điểm:
- Tiêu điểm là đề: Chiếm 10 câu (3,3%), trong đó phần thuyết đóng vai trò cơ sở bị tỉnh lược hoàn toàn trong ngữ cảnh đối thoại gấp gáp ("Đuổi theo", "Nó đấy!").
- Tiêu điểm là thuyết: Chiếm 22 câu (7,2%), phần đề làm cơ sở bị lược bỏ, phát ngôn chỉ duy trì hạt nhân thông tin ở phần thuyết ("Có hay không, nói ngay").
Chương 3: Tiêu điểm thông tin và giá trị biểu đạt của câu đơn trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế
Chương 3 đi sâu làm rõ các phương thức đánh dấu tiêu điểm thông tin thông qua hình thức câu đơn và phân tích giá trị biểu đạt nghệ thuật của các cấu trúc thông tin trong việc thể hiện tính cách, tâm lý nhân vật, tái hiện nhịp điệu kịch tính của các tình huống đối thoại, cũng như phản ánh chiều sâu tư tưởng của tiểu thuyết.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp các số liệu khảo sát cụ thể về 305 câu đơn qua lời thoại nhân vật trong Bảng 2.1 của công trình:
| Nhóm cấu trúc thông tin |
Dạng cấu trúc cụ thể |
Số câu |
Tỷ lệ (%) |
| 1. CTTT Lưỡng phân CS – TĐ |
Cơ sở – Tiêu điểm (CS – TĐ) |
171 |
56,2% |
|
Tiêu điểm – Cơ sở (TĐ – CS) |
22 |
7,2% |
| 2. CTTT Xen kẽ CS và TĐ |
Tiêu điểm nằm giữa cơ sở (CS – TĐ – CS) |
53 |
17,4% |
|
Cơ sở nằm giữa hai tiêu điểm (TĐ – CS – TĐ) |
5 |
1,6% |
| 3. CTTT Chỉ có tiêu điểm |
Tiêu điểm là đề (tỉnh lược thuyết) |
10 |
3,3% |
|
Tiêu điểm là thuyết (tỉnh lược đề) |
22 |
7,2% |
| (Các dạng cấu trúc khác) |
Tiêu điểm là cấu trúc đề – thuyết... |
22 |
7,1% |
| Tổng cộng |
|
305 |
100,0% |
Ghi chú số liệu chi tiết trong nội văn:
- CTTT CS – TĐ trùng với cấu trúc cú pháp Đề – Thuyết: 133 câu (chiếm 43,6%).
- CTTT CS – TĐ không hoàn toàn trùng với Đề – Thuyết: 38 câu (chiếm 12,5%).
- Trong nhóm CS – TĐ – CS: Tiêu điểm trùng một bộ phận của đề gồm 13 câu (4,3%); tiêu điểm trùng một bộ phận của thuyết gồm 40 câu (13,1%).
Đóng góp của đề tài do tác giả tự nêu:
- Về mặt lý thuyết: Trong bối cảnh lý thuyết CTTT còn nhiều ý kiến trái chiều tại Việt Nam và thế giới, khóa luận không tham vọng xây dựng một hệ thống lý thuyết mới mà bày tỏ chính kiến khoa học rõ ràng: ủng hộ quan điểm tách bạch CTTT (thuộc bình diện dụng pháp) với cấu trúc Đề – Thuyết (thuộc bình diện cú pháp) của các tác giả Cao Xuân Hạo, Lưu Vân Lăng và Nguyễn Hồng Cổn; cung cấp thêm bằng chứng ngữ liệu thực nghiệm chứng minh CTTT không phải lúc nào cũng đồng nhất với Đề – Thuyết.
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận mang lại nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho việc đổi mới phương pháp dạy học phân tích câu ở trường phổ thông; giúp giáo viên và học sinh tiếp cận ngữ pháp tiếng Việt theo hướng đa diện, gắn ngữ pháp với ngữ cảnh giao tiếp thực tế theo định hướng chương trình mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra và bộc lộ các giới hạn nghiên cứu sau:
- Về phạm vi ngữ liệu: Khóa luận chỉ giới hạn khảo sát trên đối tượng câu đơn và chỉ trích xuất qua các lượt lời thoại của nhân vật; chưa mở rộng khảo sát các kiểu câu ghép, câu phức hay toàn bộ hệ thống lời kể của người trần thuật trong tiểu thuyết.
- Về mặt lý thuyết: Do tính chất của một khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả thừa nhận chưa đề xuất được hệ thống lý thuyết mới về cấu trúc thông tin mà chủ yếu dừng lại ở việc tiếp thu, vận dụng và kiểm chứng các mô hình lý thuyết sẵn có của các nhà Việt ngữ học đi trước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát CTTT trên các bình diện câu khác (câu phức, câu ghép) và toàn văn tác phẩm; so sánh đặc điểm tổ chức CTTT trong văn xuôi Hồ Anh Thái với các tác giả đương đại khác nhằm làm sáng tỏ hơn phong cách ngôn ngữ văn chương hiện đại.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn và Ngôn ngữ học: Cung cấp phương pháp luận và quy trình mẫu về việc ứng dụng lý thuyết ngữ dụng học/ngữ pháp chức năng vào phân tích ngữ liệu văn học thực tế.
- Giáo viên Ngữ văn phổ thông: Cung cấp góc nhìn bổ trợ cho việc giảng dạy các bài học về thành phần câu, hoạt động giao tiếp và ngữ cảnh trong chương trình giáo dục phổ thông đổi mới.
- Người nghiên cứu phong cách học: Cung cấp số liệu thống kê chi tiết về đặc trưng đối thoại và cách tổ chức điểm nhìn ngôn ngữ của nhà văn Hồ Anh Thái.
- Phần đáng tham khảo nhất: Toàn bộ Chương 2, nơi tác giả kết hợp chặt chẽ giữa bảng số liệu thống kê định lượng và các phân tích ngữ cảnh cụ thể, chỉ ra ranh giới sai biệt giữa cấu trúc cú pháp Đề – Thuyết và cấu trúc thông tin Cơ sở – Tiêu điểm.
Câu hỏi thường gặp
Mô hình cấu trúc thông tin nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong lời thoại tác phẩm?
Mô hình cấu trúc thông tin lưỡng phân theo trật tự thuận Cơ sở – Tiêu điểm (CS – TĐ) chiếm tỷ lệ áp đảo nhất trong các câu đơn lời thoại được khảo sát, với 171 câu (chiếm 56,2% tổng số ngữ liệu). Nếu tính chung toàn bộ nhóm cấu trúc lưỡng phân (gồm cả thuận CS – TĐ và nghịch TĐ – CS), nhóm này có 193 câu, chiếm 63,3%.
Tác giả khóa luận tiếp thu khung lý thuyết cấu trúc thông tin của nhà nghiên cứu nào?
Tác giả tiếp thu và vận dụng trực tiếp mô hình cấu trúc thông tin của PGS.TS. Nguyễn Hồng Cổn (kết hợp quan điểm của Đào Thị Thanh Huyền, Cao Xuân Hạo, K. Lambrecht), chia cấu trúc thông tin thành hai thành tố: Cơ sở (background) và Tiêu điểm thông tin (information focus), đồng thời khẳng định CTTT thuộc bình diện dụng pháp và không đồng nhất với cấu trúc Đề – Thuyết ở bình diện cú pháp.
Có bao nhiêu câu đơn có cấu trúc Cơ sở – Tiêu điểm trùng khít hoàn toàn với cấu trúc Đề – Thuyết?
Qua khảo sát 171 câu đơn theo mô hình thuận CS – TĐ, tác giả thống kê được 133 câu (chiếm 43,6% tổng số câu đơn khảo sát) có cấu trúc CS – TĐ trùng với cấu trúc Đề – Thuyết của câu. Số câu còn lại (38 câu, chiếm 12,5%) không trùng hoàn toàn do tiêu điểm chỉ rơi vào một bộ phận của phần thuyết.
Mô hình Tiêu điểm đứng trước Cơ sở (TĐ – CS) thường xuất hiện trong những kiểu phát ngôn nào?
Kiểu cấu trúc nghịch TĐ – CS gồm 22 câu (chiếm 7,2%), thường xuất hiện trong các câu hỏi có đại từ nghi vấn đứng đầu câu ("Sao tự tiện...", "Chuyện gì xảy ra...") nhằm nhấn mạnh nội dung người nói cần tìm hiểu, hoặc trong các phát ngôn khẳng định mang tính mệnh lệnh đưa thông tin yêu cầu lên trước ("Tắm đi đã...").
Khóa luận khảo sát trên tổng số bao nhiêu câu đơn và thuộc nguồn văn bản nào?
Khóa luận tiến hành khảo sát trên tổng số 305 câu đơn, được trích xuất hoàn toàn từ các lời thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của tác giả Hồ Anh Thái, ấn bản do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2003.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Sen đã khảo sát một cách có hệ thống 305 câu đơn qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái dưới lăng kính cấu trúc thông tin. Bằng phương pháp thống kê định lượng và miêu tả ngữ cảnh, công trình đã phân loại cụ thể các mô hình phân bố tiêu điểm thông tin và làm rõ ranh giới giữa bình diện cú pháp Đề – Thuyết với bình diện dụng học Cơ sở – Tiêu điểm. Nghiên cứu khẳng định sự độc lập của cấu trúc thông tin trong giao tiếp đối thoại, đồng thời đem lại giá trị thực tiễn thiết thực cho việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học và đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường phổ thông.