Chương 1 TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY Chiến tranh là một đề tài phổ biến trong văn chương nhân loại nói chung, ở ta, nó càng trở nên quen thuộc vì chúng ta phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh. Trong tiến trình văn học Việt Nam từ 1945 tới nay, cách ứng xử với chất liệu chiến tranh có sự thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử. Thời chiến, văn học về chiến tranh là diễn ngôn ý thức hệ, diễn ngôn tự hào dân tộc, nó đặc biệt chú trọng phản ánh phía hiện thực hào hùng với những chiến công oanh liệt của quân dân ta. Thời bình, nó nghiêng sang phía hiện thực còn khuất lấp: sự hi sinh, tổn thất mà dân tộc ta phải gánh chịu trong suốt ba thập kỉ và những dư chấn nặng nề mà chiến tranh để lại.
Không chỉ phản ánh, nhà văn còn “sáng tạo hiện thực” và “suy ngẫm” về nó từ nhiều góc độ. Bên cạnh diễn ngôn ý thức hệ, diễn ngôn tự hào dân tộc, văn học về chiến tranh có thêm các diễn ngôn khác (nhân tính, dục tính, hạnh phúc cá nhân,…). Bình đẳng với các chất liệu khác, chất liệu chiến tranh còn là phương tiện biểu hiện nghệ thuật, là “thi pháp”, là cuộc “phiêu lưu” của lối viết,… Khi đó, “tính vĩnh cửu” của nghệ thuật được đặc biệt coi trọng. Lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược đã hoàn kết, nhưng bằng sự chuyển hóa từ ý nghĩa xã hội – lịch sử sang ý nghĩa xã hội – thẩm mĩ, văn học về chiến tranh không ngừng vận động trên hành trình kiếm tìm những giá trị nghệ thuật mới mẻ để làm giàu cho chính nó.
Đặt tiểu thuyết về chiến tranh trong tiến trình văn học Việt Nam từ 1945 tới nay là tiền đề quan trọng để thấy được sự đổi mới của nó. Vị trí của đề tài chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1945 tới nay 1. Vị trí của đề tài chiến tranh trong văn xuôi trước năm 1975 Từ 1945 đến 1975, đất nước ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Sau đó vào các năm 1978 và 1979, nhân dân ta vẫn còn phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, con người buộc phải thích nghi với cuộc sống bất thường và một nền văn hoá thời chiến dần định hình; quyền lợi giai cấp và dân tộc, nhãn quan ý thức hệ trở thành chuẩn mực đo đếm các giá trị. Để thắng được những kẻ thù lớn mạnh, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực, trong đó có văn học. Với sứ mệnh tuyên truyền, cổ vũ chiến đấu, với phương châm “phục vụ kháng chiến”, văn chương thời chiến xem chiến tranh là “lửa thử vàng”, là môi trường tôi luyện con người mới. Trong sinh hoạt văn nghệ, văn học viết về chiến tranh được đón nhận nhiệt tình, vì nó trực tiếp khẳng định chính nghĩa dân tộc, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin cho con người.
Đó chính là những tiền đề cơ bản làm nên vị trí quan trọng hàng đầu của đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Trong bài Mấy nét về đề tài chiến tranh và tiểu thuyết Đất trắng, Đặng Quốc Nhật đã thống kê: “Nếu tính từ 1954 đến 1975, thì đề tài chiến tranh được đề cập đến ở một số lượng tác phẩm khá lớn so với các mảng đề tài khác: 115 tập truyện kí, 74 tập tiểu thuyết trong số 397 tập truyện kí, 173 tập tiểu thuyết đã in. Từ 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp được tái hiện trong mọi thể loại văn xuôi. Về thể kí, có thể kể tới Trận phố Ràng, Một cuộc chuẩn bị của Trần Đăng, Ở mặt trận Nam Trung bộ, Ngược sông Thao của Tô Hoài, 18 Chặt gọng kìm đường số Bốn của Hoàng Lộc, Kí sự Cao – Lạng của Nguyễn Huy Tưởng… Về tùy bút, Đường vui và Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến của Nguyễn Tuân có một vị trí khá quan trọng trong văn xuôi giai đoạn này.
Truyện ngắn cũng để lại được một số thành công đáng kể: Đôi mắt của Nam Cao, Làng của Kim Lân, Con đường sống của Minh Lộc Gặp gỡ của Bùi Hiển, Tây đầu đỏ và Bên rừng cù lao Dung của Phạm Anh Tài, Truyện Tây Bắc của Tô Hoài. Giai đoạn này, tiểu thuyết còn rất hiếm hoi, tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến là Xung kích (1951) của Nguyễn Đình Thi. Giai đoạn 1955 – 1964, hoà bình được lập lại ở miền Bắc, văn học có điều kiện để phát triển. Văn xuôi giai đoạn này khá đa dạng về đề tài.
Bên cạnh bộ phận quay lại tái hiện bức tranh lịch sử trước cách mạng tháng Tám 1945 (Mười năm của Tô Hoài, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng…); hoặc hướng vào đời sống hiện tại, phản ánh sự đổi thay của đất nước, của con người trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa; văn xuôi về chiến tranh vẫn chiếm vị trí quan trọng cả về số lượng lẫn chất lượng tác phẩm. Cuộc kháng chiến chống Pháp được nhiều nhà văn tiếp tục khai thác. Một số tác phẩm tiêu biểu: Đất nước đứng lên (Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1954 - 1955) của Nguyên Ngọc, Vượt Côn Đảo (Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1955) của Phùng Quán, Mùa hoa dẻ (1957) của Văn Linh, Một truyện chép ở bệnh viện (1958) của Bùi Đức Ái, Bên kia biên giới (1958) và Trước giờ nổ súng (1960) của Lê Khâm, Cao điểm cuối cùng (1960) của Hữu Mai, Sống mãi với thủ đô (1961) của Nguyễn Huy Tưởng, Phá vây (1961) của Phù Thăng, Đất lửa (1963) của Nguyễn Quang Sáng,. Văn xuôi chiến tranh không chỉ có những tác phẩm được giải thưởng, được dư luận đánh giá cao, một số trường hợp còn trở thành hiện tượng gây ồn ào vì vi phạm sự cấm kị (Mùa hoa dẻ, Phá vây).
Thành tựu đáng chú ý của tiểu thuyết về chiến tranh trong giai đoạn này là 19 nhà văn đã xây dựng được những nhân vật điển hình như anh hùng Núp – Đất nước đứng lên, chị Tư Hậu – Một truyện chép ở bệnh viện. Tới giai đoạn 1965 – 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ lan rộng ra cả nước, văn xuôi viết về chiến tranh càng nở rộ. Có được thành tựu đó là do đội ngũ nhà văn cách mạng vừa đạt tới độ chín, vừa được bổ sung những cây bút trẻ, xông xáo. Xuất phát từ yêu cầu phản ánh và cổ vũ kịp thời cho cuộc chiến, nhiều nhà văn từ miền Bắc đã tăng cường cho chiến trường miền Nam và họ nhanh chóng có được thành tựu: các tập truyện và kí Bức thư Cà Mau của Anh Đức, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc của Nguyễn Trung Thành; các tập truyện kí Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Sống như anh của Trần Đình Vân, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, các tập truyện ngắn Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch của Nguyễn Quang Sáng.
Tiểu thuyết về chiến tranh trở thành bộ phận chủ đạo của văn học giai đoạn này. Từ quan niệm “nếu coi thơ như là hoa, thì tiểu thuyết như là quả của văn học” [171, tr.313], nhà văn chọn tiểu thuyết với khát vọng phản ánh hiện thực hào hùng ở tiền tuyến lớn và hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Một số tác phẩm tiêu biểu: Hòn Đất (1966) của Anh Đức, Rừng U Minh (1966) của Trần Hiếu Minh, Gia đình Má Bảy (1968), Mẫn và tôi (1972) của Phan Tứ, Vào lửa (1966) và Mặt trận trên cao (1967) của Nguyễn Đình Thi, Cửa sông (1967) và Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, Đất Quảng (1970) của Nguyễn Trung Thành, Đường trong mây, Chiến sĩ (1973) của Nguyễn Khải, Dưới đám mây màu cánh vạc (1973) của Thu Bồn, Những tầm cao (tập 1 – 1973) của Hồ Phương, Dòng sông phẳng lặng (tập 1 – 1974) của Tô Nhuận Vĩ, Sao Mai (tập 1 – 1974) của Dũng Hà, Vùng trời (tập 1 – 1972, tập 2 – 1974) của Hữu Mai,. Trong giai đoạn này, văn xuôi về chiến tranh chiếm vị thế ưu trội, các tác phẩm viết về hậu phương cũng in đậm hơi thở chiến trường (ví dụ: Đất làng – Nguyễn Thị Ngọc Tú, Vùng quê yên tĩnh 20 – Nguyễn Kiên).
Những tác phẩm “kinh điển” như Hòn Đất, Mẫn và tôi, Dấu chân người lính, Vùng trời… đều viết về chiến tranh. Tiểu thuyết chiến tranh cũng có dấu hiệu chuyển động đáng ghi nhận. Đó là sự mở rộng dung lượng phản ánh và quy mô tác phẩm. Những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mĩ đã xuất hiện khuynh hướng muốn tìm tòi, lí giải những vấn đề trực tiếp liên quan đến con người như đạo đức, lẽ sống, lối sống trong đời sống chiến tranh (Đường trong mây, Ra đảo – Nguyễn Khải).
Những nhân vật trẻ tuổi như Lữ (Dấu chân người lính), Hảo (Vùng trời), Mẫn (Mẫn và tôi) vẫn bình tĩnh tự tin trong chiến đấu nhưng đời sống nội tâm không còn cái thanh thản, ổn định, dễ dàng như nhiều nhân vật trong tiểu thuyết giai đoạn trước. Điều đó cho thấy nỗ lực kiếm tìm để đổi mới thể loại trước hết thuộc về tiểu thuyết chiến tranh. Từ 1945 đến 1975, hiện thực cách mạng và đời sống lịch sử dân tộc là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhà văn. Vai trò của nhà văn cũng được nhìn nhận ở phương diện “chiến sĩ”.
“Con người mới”, những con người mang tầm vóc sử thi, luôn chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn học. Có thể nói, khuynh hướng sử thi, khuynh hướng gắn liền với các cuộc chiến tranh vệ quốc, là đặc điểm bao trùm cả nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. Vị trí của đề tài chiến tranh trong văn xuôi sau năm 1975 Khi chiến tranh kết thúc, chúng ta phải phải học để làm quen trở lại với đời sống hoà bình. Song sau hơn ba thập kỉ, dư âm và hậu quả của hai cuộc chiến vẫn in dấu đậm nét trong cuộc đời của nhiều người từng đi qua chiến tranh và cả một số người sinh ra khi đất nước đã im tiếng súng.
Trong bối cảnh đất nước đổi mới và xu thế hội nhập toàn cầu, việc xác lập hệ giá trị mới là đòi hỏi cấp bách, mỗi cái mới cần được nhìn trong tương quan với cái bị coi là cũ hoặc chưa cũ nhưng đã từng xuất hiện trong điều kiện chiến tranh. Khoảng mười năm sau 1975, văn học về chiến tranh vẫn giữ vai trò chủ đạo.