Chương 1: Người lính và bi kịch ngày trở về. Chương 2: Người lính với những phẩm chất tốt đẹp. Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng. 11 -“tuận van Shae sĩ (Xguyên ()(gọe 26- ng PHẢN NỘI DUNG NHỮNG NHÀ VĂN MẶC ÁO LÍNH Trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 nói chung, trong sáng tác của ba nhà văn Chu Lai, Bảo Ninh và Lê Lựu nói riêng, nhân vật người lính được phản ánh từ nhiều bình diện, trong nhiều mối quan hệ của đời sống.
Ngay ở bình diện con người lịch sử vốn là nét ôn định, vững chắc nhất trong cấu trúc hình tượng người lính của văn xuôi kháng chiến cũng diễn ra những thay đổi khi nhà văn quan niệm về chiến tranh, người lính chỉ như một khu vực đề tài mà không hàm chứa sự phân định cao thấp, không còn là phạm vi đặc thù của cái nhìn sử thi về đời sống. Sự biến đối trong mối quan hệ giữa người lính với lịch sử nằm trong sự chuyên dịch khoảng cách giá trị giữa cá nhân với cộng đồng, thé hiện nồi bật quá trình thể nghiệm con người cá nhân mới trong quan niệm văn học và chứng tỏ sự xâm nhập, dân chủ hoá theo hướng đa dạng hoá đề tài. Điều này xuất phát từ thực tế văn học sau năm 1975 mặc dù cuộc kháng chiến chống Mi kết thúc thắng lợi, song những gì mà cuộc chiến ấy để lại trên đất nước, trong con người Việt Nam là quá đậm nét, không thé phôi phai một sớm một chiều. Không kể các tác phẩm viết về những sự kiện lịch sử của một thời kháng chiến đã qua, một cách tự nhiên, phần lớn các tác phẩm đều có bóng dáng của lịch sử.
Vấn đề là, ở phương diện lịch sử, có sự thay đôi lớn trong quan điểm tiếp cận, đánh giá, cụ thể hơn, ở bình diện lịch sử, người lính đã được thể hiện với những tiêu chí khác trước. Điểm này không nằm ngoài những vận động đổi mới trong quan niệm nghệ thuật vỀ cuộc song và con người cua van học Việt Nam thời ki đôi mới. Một điều hiển nhiên là, khi tính chân thật của hình tượng không còn chỉ lay việc quy chiếu lịch sử làm điểm tựa thì nội dung phản ánh cũng sẽ xuất hiện những vấn đề mới. Tính lịch sử của các tiêu thuyết nói chung va của những tiêu thuyét viet về chiên tranh 12 -“tuận van Shae sĩ (Xguyên ()(gọe 26- ng và người lính nói riêng là lịch sử của cái hiện tại, là những vấn đề nhân sinh được soi chiếu qua nhiều chiều tương quan giữa quá khứ và hiện tại trong khát vọng nghệ thuật về cái hiện tồn và cái sẽ diễn ra.
Bảo Ninh tên thật là Hoàng Au Phuong, sinh nim 1952 tai huyén Dién Chau, tỉnh Nghệ An, qué ở xã Bao Ninh, huyện Quang Ninh, tỉnh Quảng Binh. Ông vào bộ đội năm 1969. Thời chiến tranh, Bảo Ninh chiến đấu ở mặt trận B3 Tây Nguyên, tại tiêu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10. Năm 1975, ông giải ngũ.
Từ 1976 - 1981 học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam. Từ 1984 - 1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du. Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997.
Tên tuổi của Bảo Ninh đã được biết đến qua các tác phẩm: Bí ẩn của làn nước Bội phản, Cái bung, Hà Nội lúc không giò, Khắc dấu mạn thuyền, Mac cạn, Mây trắng còn bay, Truyện ngắn,Nỗi Buôn Chiến Tranh, Rửa tay gác kiếm, Thách đấu Thời của xe Máy, Tiếng vĩ cam của quân xâm lăng, Vô cùng xưa cñũ.trong đó đặc biệt phải ké đến là tiêu thuyết Mỗi buôn chiến tranh. Không thực sự tạo nên những tranh luận “dữ dội” và dai dăng, nhưng sự xuất hiện của Bảo Ninh với Nỗi buẩn chiến tranh (lần in đầu năm 1987 có tên là Thân phận của tình yêu), cũng đã gây nên sự đánh giá trái chiều và không ít gay gắt đương thời. Chon một hình thức cấu trúc độc đáo “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”: quá trình một nhà văn cấp phường - vốn là binh nhì trong chiến tranh - viết một cuốn tiêu thuyết về chiến tranh bằng sự chi phối của những ý tưởng và nguyên tắc khá “lập di” của một người đang bi “rối boi”, “ban loạn” về tư tưởng, ký ức luôn bi dan vặt, hối thúc. Nhà văn - người lính ý thức rat rõ cái giá của bản thân và đồng đội của mình phải trả cho chiến thắng nên vô cùng hụt hãng trước sự “vô tâm” của con người hôm nay.
Nhân danh quá khứ, nôi buôn và những 13 -“tuận van Shae sĩ (Xguyên ()(gọe 26- ng người đã khuất anh đối thoại với hiện tại với nhiều điều bê bối, nhức nhối. Đúng như Hoàng Ngọc Hiến nhận xét: Bảo Ninh đã viết về chiến tranh bằng những “nghịch lý”, hoàn toàn trái với những “thuận lý” vốn rất quen thuộc của tư duy văn học sử thi và nhờ thế đã đem lại cho người đọc một cái nhìn mới, đa chiều, sâu sắc về chiến tranh - vốn là chất liệu hiện thực đã quá quen thuộc của văn học. Những điều đó là hệ quả tất yêu của một tư duy văn học mới sâu sắc. Nhà văn phải có nhân cách, phải có ý thức “chiến đấu loại trừ cái giả” mà trong văn chương, theo quan niệm của Bảo Ninh “sự chừng mực luôn đồng nghĩa với nhạt và giả”.
Bởi vậy phải viết bằng tất cả sự nghiền ngẫm sâu xa của mình, bằng sự thôi thúc “ viết dé quên đi, viết để nhớ lại, viết dé có một cứu cánh, một niềm cứu roi, dé mà chịu đựng dé giữ lòng tin, dé ma còn muốn sống”. Viết trong sự ám ảnh của những hồi ức, của quá khứ nhức buốt, nhưng không thể lãng quên. “Viết khô viết sở, viết như đập đầu vào đá, như là tự tay tước vụn trái tim mình, như là lộn trái con người mình ra”. Lao động của nhà văn chỉ thật sự có ý nghĩa cao cả khi họ sống trung thực, sống đến tận cùng cảm xúc va trải nghiệm, viết với sự khổ công như thế.
Sự hoi hot, cầm chừng, giả tạo, không thé có văn chương đích thực. Bảo Ninh đã đóng góp trước hết một quan niệm về nhân cách, bản lĩnh của người cầm bút và bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Viết về chiến tranh là viết về con người, không thê để các sự kiện “đè bẹp” con người. Hiện thực chiến tranh không phải là mục đích tái hiện mà chỉ là đường viền làm nổi rõ số phận con người.
Nhìn chiến tranh từ góc độ số phận con người và thê hiện chiến tranh qua tâm trạng của con người, Bảo Ninh đã đi đến đáy cùng của hiện thực chiến tranh. Chiến tranh không chỉ là bom đạn, chết chóc, nghiệt ngã, tan nát mà đáng buồn hơn chiến tranh còn hủy diệt nhân tính, nhân tình. Bởi thế, khi chiến tranh kết thúc “Chính nghĩa đã thắng, lòng nhân đã thắng 14 -“tuận van Shae sĩ (Xguyên ()(gọe 26- ng nhưng cái ác, sự chết chóc và bạo lực phi nhân cũng đã thắng”. Hòa bình đến, những người sống sót trở về luôn cảm nhận mình như “bị mắc kẹt giữa cuộc đời”, càng ngày càng thâm thía hơn nỗi buồn chiến tranh, “nỗi buồn được sống sot”.
Những lời cảnh tinh “hãy coi chừng mà xem lại nhân tính”, “những ton thất, những mat mát có thé bù đắp, các vét thương sẽ lành, đau khổ sẽ hóa thạch nhưng nỗi buồn về cuộc chiến tranh thì càng ngày càng thấm thia hon, sẽ không bao giờ nguôi”. luôn là những thông điệp nghệ thuật đầy ám ảnh, đậm đặc trên từng trang Mỗi buổn chiến tranh. Bao Ninh đã mang đến cho văn học “nỗi buồn” với những giá trị nhân văn sâu sắc - một trong những điều “cắm ky” của văn chương trước đó - và mở ra một ngả rẽ cho văn học viết về chiến tranh. Quả là sau Nỗi buôn chiến tranh, người ta sẽ không thê viết về chiến tranh như trước được nữa.
Cùng với những đổi mới trong cảm hứng nhân văn, Bao Ninh cũng có những đóng góp quan trọng vào tư duy thê loại tiêu thuyết. Quan niệm mới về hiện thực, về con người là cơ sở để hình thành một thế giới nhân vật mới mẻ. Đặc trưng trong thế giới nhân vật ay là kiểu loại nhân vật bi chan thương - những con người đã bị chiến tranh làm cho méo mó, với những chan thương không thể chữa lành, luôn bị ám ảnh bởi cô đơn, không còn khả năng hòa nhập với cộng đồng. Việc xây dựng thành công những nhân vật ghép mảnh - hiện thực hóa, hình tượng hóa quan niệm của nhà văn về con người vốn phức tạp, đa nhân cách, nhưng đã bị vỡ vụn, bị tha hóa nhân cách bởi chiến tranh, đang gắng gượng vật lộn dé hoàn nguyên - và việc sử dụng hiệu qua dòng hồi ức trong xây dựng cốt truyện, cố ý phá bỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt truyện truyền thống, đan xen, đảo ngược quá khứ - hiện tại - tương lai, hòa trộn ảo - thực, cùng với việc tạo dựng một thế giới ngôn ngữ đa thanh, giàu biểu cảm, giàu tính đối thoại.là những nỗ lực rất lớn của Bảo Ninh vào việc hiện đại hóa tiểu thuyết 15 -“tuận van Shae sĩ (Xguyên ()(gọe 26- ng Việt Nam.
Đó cũng là hiệu qua tất yếu từ những trăn trở đổi mới tư duy nghệ thuật của Bao Ninh, tim tòi một “cách viết mới” - cách viết đa thanh có kha năng kích thích tính dân chủ, đối thoại của văn học. Chính vì thế, phần đông ý kiến đều khang định thành công của Nỗi buôn chiến tranh: “Một cuốn sách gây xúc động buộc phải suy nghĩ, một cuốn sách hay”, “không phải sử thi truyền thống”, “là một bằng chứng vé sự trưởng thành của văn xuôi” Việt Nam. Đó thực sự là đóng góp của Bao Ninh vào việc khang định một kiểu tư duy văn học mới với tinh thần nhân văn mới, với ngôn ngữ tiểu thuyết đa thanh mới. Hội Nhà văn đã trao giải thưởng cho Nỗi buôn chiến tranh và đó cũng là “một thắng lợi của văn chương”, một sự khẳng định, ủng hộ những tìm tòi, đổi mới đích thực của văn học.
Cùng với Bảo Ninh, Chu Lai cũng là một nhà văn áo lính. Dai ta nhà văn Chu Lai sinh năm 1946, quê Hưng Yên là tác giả của Phố, Nắng đồng bằng, An mày di vãng, Vòng tròn bội bạc, Cuộc đời dài lắm. những tác pham về người lính tạo nên sức hút đối với người đọc bằng chính tài năng, tâm huyết và cá tính của mình. Với Chu Lai, viết về người lính đã trở thành nỗi câu thúc tự nhiên.