Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thân thể Chương 2: Thân thể trong văn học và một số vấn đề thân thể trong thơ ca Việt Nam Chương 3: Một số phương diện của thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam từ sau 1986 đến nay Chương 4: Nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÂN THỂ 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Nghiên cứu về thân thể ở phương Tây 1. Nghiên cứu về thân thể trong truyền thống phương Tây Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, đã từng có những cách hiểu khác nhau về thân thể.
Triết học Hy Lạp cổ đại phân biệt ―thân thể‖ và ―tinh thần‖. Thân thể thuộc về thế giới hữu hình, có thể bị tan rã, tiêu diệt, còn tinh thần, linh hồn thuộc thế giới vô hình, trường tồn, bất tử. Thân thể phản ánh sự sa đọa của tinh thần và linh hồn, là cái hữu hạn, dễ bị cám dỗ. Chỉ có phần hồn mới là cái cao cả, trác tuyệt của con người, vì vậy cần cứu rỗi con người và tinh thần ra khỏi tù ngục thân thể để vươn tới cái vĩnh hằng, bất tử.
Platon cũng phân biệt ―thân thể‖ và ―tinh thần‖. Ông đề cao tinh thần, cho rằng thân thể chỉ là phần vật chất, mang tính hữu hạn, nơi trú ngụ, là vật chứa đựng của linh hồn, tinh thần, còn tinh thần là cái vĩnh viễn, thậm chí có trước con người: ―ta đã có tri thức về sự vật trước khi sinh ra làm người, nghĩa là khi ta còn là những tinh thần trên thế giới thần linh‖ [35, tr. Như vậy, triết học phương Tây cổ đại luôn xem thân thể là cái thấp hèn và luôn tìm cách đè nén, bài xích thân thể. Descartes, triết gia Pháp kỷ 17, con người là cấu trúc nhị nguyên, có phần tinh thần và có phần thể xác.
Với quan điểm nổi tiếng ―Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”, ông khẳng định, xác thịt là vật không thể tư duy, là thứ tương phản với tinh thần, là gông cùm của linh hồn, có thể bị hỏng, bị bỏ đi, không có giá trị, chỉ có tinh thần mới là cái đáng coi trọng. Mô hình đối lập tư duy/ thân thể của Descartes tôn sùng tư duy trừu tượng, hạ thấp nhu cầu thân thể; nằm ở vị trí trung tâm của tư duy trừu tượng là tư tưởng lí tính; còn thân thể thì tượng trưng cho tình cảm, dục vọng, đối lập với tinh thần và tư duy. Chỉ có linh hồn là bất tử, còn thân thể là cái sẽ bị hủy hoại, không đáng coi trọng. Theo Hegel, con người tách rời phần hồn và phần xác, thể xác là xấu, tinh thần là tốt mang tính thần thánh.
Duy lý là hoạt động cao nhất của con 7 người. Con người duy lý là cao nhất, là chúa tể. Tư tưởng đề cao tinh thần coi nhẹ thể xác đã trở thành một xu hướng tư tưởng chính, mang tính thống trị trong triết học phương Tây đến thế kỷ 19. Thiên chúa giáo (còn gọi là Kitô giáo, Cơ Đốc giáo) lại chủ trương đề cao sự tồn tại của thân xác, cho rằng cả vật chất, xác thịt đều do Thiên chúa tạo dựng, vì vậy đều tốt đẹp.
Con người là một thể thống nhất toàn diện, nếu linh hồn bất tử thì thân xác cũng bất tử, hơn nữa, họ còn cho rằng: ―xác là đền thờ của Thánh linh‖ [174, tr. Tuy nhiên trong thực tế giữ đạo, tu đức, chịu ảnh hưởng triết lí Hy- lạp, trong nhận thức và quan điểm giáo dục, đức tu của Thiên chúa giáo cũng phân biệt hồn và xác, đề cao linh hồn và miệt thị thân xác. Thiên chúa giáo xem thân thể như yếu tố phụ trợ, là phương tiện như ngôi nhà của trí tuệ và linh hồn. Thân thể là cái sẽ bị hư hoại, biến mất, chỉ có linh hồn là còn mãi, bất diệt.
Trong quan niệm về khổ hạnh, ―người đi theo dòng tu nghĩ rằng, càng làm khổ thân xác bao nhiêu càng làm đẹp lòng Chúa bấy nhiêu, càng khinh miệt xác thịt bao nhiêu, càng đề cao Thiên Chúa bấy nhiêu. Đời sống tu hành miệt thị thân xác vì xem thân xác là xấu xa, tội lỗi, thấp hèn và là nguồn gốc của tội ác khác‖ [174, tr. Có thể nói, từ thời cổ cho đến Kant, Hegel, triết học và tôn giáo phương Tây đều phổ biến quan niệm nhị nguyên về con người, phân biệt hồn và xác thành hai thực thể và chỉ chú trọng đến mặt tinh thần, mặt linh hồn, coi thường và miệt thị về thân xác. Vấn đề thân thể không phải là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, nó đã có lịch sử lâu đời, nhưng do thân thể từng bị coi nhẹ so với tinh thần, nên nghiên cứu về thân thể còn nhiều hạn chế.
Từ Nietzsche, ―thân thể‖ đi vào phạm vi nghiên cứu của đông đảo học giả, rất nhiều học giả của các ngành khoa học như triết học, xã hội học, nhân loại học, tôn giáo học, phân tâm học, nữ quyền học… ở Anh, Pháp, Mỹ, Đức… đều coi nó là một nội dung quan trọng của lí luận. Bước ngoặt nghiên cứu về thân thể ở phương Tây Vấn đề thân thể được coi trọng bắt đầu từ Nietzsche. Nietzsche là triết gia đầu tiên đặt thân thể vào vị trí nổi bật trong triết học. Ông coi thân thể là cái mang 8 tính quyết định.
Từ góc độ thân thể, nhìn lại lịch sử, nghệ thuật, lí tính, ông thấy tất cả những thứ đó đều là sản phẩm có liên quan đến thân thể. Chính vì thế, thế giới và thân thể có liên hệ mật thiết, thế giới chính là sự diễn giải của thân thể, là sản phẩm của thân thể, của ý chí quyền lực. Nietzsche tuyên bố: ―Cần phải lấy thân thể làm chuẩn mực‖. Nietzsche đã lật ngược vấn đề, hạ thấp chủ thể ý thức, bởi đề cao ý thức là siêu hình, phải kìm hãm và lãng quên thân xác, dù thân xác là cái hiện diện trong con người từng phút từng giây.
Nietzsche cho rằng, tôi và anh khác nhau không phải là cá tính mà bằng thân thể. Đây chính là tư tưởng mang tính bước ngoặt về vấn đề thân thể. Tư tưởng của Nietzsche đã có ý thức đề cao thân thể, cội nguồn của việc giải phóng thân thể. Tư tưởng coi trọng thân thể thời hiện đại chính là tư tưởng mang bản chất lật đổ tư tưởng Kito giáo.
Người xưa thường thông qua thân thể của mình để suy tư về vũ trụ và thông qua vũ trụ để suy tư về thân thể của mình [199, tr. Còn chúng ta luôn đối lập thân thể và thế giới, lấy thân phận của chủ thể để nhận biết và xây dựng thế giới không thuộc về chúng ta. Maurice Merleau-Ponty là nhà nghiên cứu hiện tượng học thân thể trong mô hình thân thể thế giới, coi tồn tại của con người xác lập thành thế giới mang tính thân thể. Ông muốn từ cảm giác và đặc trưng của nó làm điểm xuất phát để diễn giải về tính khả năng và phương thức giao hòa lẫn nhau giữa thân thể và linh hồn, chủ thể và khách thể, thân thể và thế giới.
Merleau Ponty trong Hiện tượng học tri giác (1945) đã nói: ―Thân thể là phương tiện chung để chúng ta chiếm hữu thế giới‖. Bản chất của thân thể là một ―không gian biểu đạt‖. Tính không gian của thân thể là điều kiện để hình thành thế giới ý nghĩa của con người. Nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của trực giác, mà trực giác luôn luôn gắn liền với thân thể.
Không có trực giác bên ngoài thân thể. Ponty, nhờ thân thể mà chúng ta nhận thức được thế giới thông qua cảm giác. Con người không chỉ nhận biết thế giới bằng năm giác quan mà bằng cả cơ thể. Cơ thể không phải chỉ là thể xác, không lý tính, mà vẫn đầy lý tính vì ý thức và lý tính bắt nguồn từ thân thể.
Ông đã chứng minh được tinh thần bắt nguồn từ thân thể. Tư tưởng này kéo thế giới mỹ học từ siêu hình xuống thấp. Thân thể là một đối tượng để con người chiêm ngưỡng, bàn luận. So với cái chết, thân thể 9 là sự sống, là cơ thể sống, so với động vật, thân thể con người là một cơ thể có tâm hồn, ý thức.
Ponty, Foucault cho rằng thân thể mang tính chính trị, hoạt động thực tiễn tổ chức xã hội đều xoay quanh thân thể: hành hạ, trừng trị thân thể nhằm hạn chế tinh thần, khống chế thân thể. Tất cả đều lấy thân thể làm tiêu điểm và quy hoạch thế giới. Trong tiến trình quy hoạch thân thể, mọi bí ẩn của lịch sử, xã hội quyền lực đều thể hiện ra hết (thí dụ nhà tù). Foucault đã diễn giải lịch sử thân thể bị tàn phá và áp chế, từ sự trừng phạt thể xác thời cổ đại đến sự trừng phạt tinh thần thời hiện đại.
Thân thể, từ góc nhìn của Foucault, là đối tượng chịu sự tác động của quyền lực. Nhà xã hội học John 0'Neill trong cuốn Five bodies: Re-figuring Relationships, (London: Sage Publications, 2004) đã chỉ ra thân thể có hai phương thức tồn tại không thể phân tách: thân thể sinh lí và thân thể mang tính giao tiếp. Thân thể giao tiếp là thân thể chúng ta học cách suy nghĩ và sở hữu, là cầu nối chung của thế giới, lịch sử, văn hóa và kinh tế chính trị [199, tr.4] và có thể phân chia thêm một bước thành: thân thể thế giới, thân thể xã hội, thân thể chính trị, thân thể tiêu dùng và thân thể y học.Niell thông qua hình thái thân thể cuối cùng, tức là thân thể y học, trong mỗi một giai đoạn của chu kì sinh mệnh, từ hoài thai, ra đời, dưỡng dục, hành vi sex, sinh bệnh, đau khổ, già và qua đời, thân thể đều bị điều trị hóa và xã hội hóa, bị quản lí thống nhất bởi trung tâm chuyên nghiệp rơi vào trong sự khống chế của thể chế quyền lực. Người viết cho rằng từ thế kỉ 20, các nhà lí luận thân thể đều không lí giải thân thể giản đơn là thân thể sinh lí, mà phải thông qua thân thể mang tính giao tiếp để suy tư về tính đa nguyên của thân thể với các phương pháp nghiên cứu đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực rộng lớn và có những thành tựu đáng kể.
Shaun Gallagher năm 2005, công bố bài How the Body Shapes the Mind. Oxford: Oxford unviversity Press, 2005, [197, tr.103] là thành quả nghiên cứu mang tính xây dựng của hiện tượng học và triết học tri nhận của Maurice Merleau-Ponty.