Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986"

  • Tác giả: Chung Thị Thúy
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS. Lê Lưu Oanh
  • Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
  • Chuyên ngành: Lý luận văn học (Mã số: 9.20)
  • Năm bảo vệ: 2022

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thân thể giữ vai trò tiên quyết trong đời sống con người, trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn. Trong tiến trình phát triển của triết học và mĩ học hiện đại, quan niệm về thân thể đã có những bước chuyển biến quan trọng: từ chỗ bị triết học cổ đại và tôn giáo xem là phần vật chất thấp kém, tội lỗi đối lập với linh hồn bất tử, thân thể đã được nhìn nhận lại như cội nguồn của tri giác, điểm xuất phát của tinh thần và là phương tiện để con người chiếm hữu, nhận thức thế giới.

Trong văn học ("Văn học là nhân học" - M. Gorki), thân thể không chỉ là đối tượng miêu tả thuần túy về diện mạo hay hành động mà còn trở thành một phương tiện biểu đạt tư tưởng nghệ thuật, một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ đặc thù mang tính quan niệm của nhà văn và thời đại. Thơ trữ tình Việt Nam sau năm 1986, dưới tác động của bối cảnh lịch sử, xã hội thời kỳ Đổi mới và xu hướng hiện đại hóa, đã diễn ra sự chuyển biến sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới. Đó là xu hướng giải phóng thân thể, giải phóng cá nhân khỏi những quy phạm ước lệ trước đó, hình thành nên những kiểu loại và nguyên tắc kiến tạo thân thể riêng biệt.

Mặc dù các công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam sau 1986 xuất hiện tương đối nhiều, song phần lớn tiếp cận dưới các góc độ như cái tôi trữ tình, ý thức phái tính, thiên tính nữ hoặc yếu tố tính dục đơn lẻ. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào tiếp cận và khảo sát một cách có hệ thống về thân thể trong thơ trữ tình sau 1986 như một loại ngôn ngữ nghệ thuật, một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ đặc thù.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định và đánh số cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Mục đích đầu tiên: Xác lập hệ thống lí thuyết về thân thể trong văn học (bao gồm khái niệm, biểu hiện, đặc trưng của thân thể trong văn học; bước đầu chỉ ra sự khác biệt giữa thân thể trong thơ ca và thân thể trong văn xuôi; chỉ ra đặc điểm của thân thể trong thơ ca Việt Nam), từ đó xác lập phương pháp luận nghiên cứu thân thể trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng.
  2. Mục đích tiếp theo: Chỉ ra và phân tích một số phương diện cơ bản của thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986; thông qua việc so sánh đặc điểm thân thể trong thơ trữ tình sau 1986 với các giai đoạn trước để chỉ ra sự vận động, biến đổi của quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thời đại.
  3. Mục đích cuối cùng: Chỉ ra và phân tích các nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ trữ tình sau 1986; làm rõ các nguyên tắc đó được thực hiện qua phương thức đặc trưng của thơ trữ tình, đồng thời so sánh với thơ ca giai đoạn trước để khẳng định sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thân thể trong thơ Việt Nam sau năm 1986.
  • Phạm vi nghiên cứu: Văn bản thơ trữ tình Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ở nước ngoài

  1. Nghiên cứu về thân thể ở phương Tây:

    • Truyền thống triết học và tôn giáo: Triết học Hy Lạp cổ đại (Platon), triết học cận đại (René Descartes với quan điểm nhị nguyên "Tôi tư duy tức là tôi tồn tại", G.W.F. Hegel) và quan niệm tu đức, khổ hạnh Kitô giáo nhìn chung đều đặt linh hồn/tư duy lý tính ở vị trí tối thượng, hạ thấp và coi nhẹ thể xác, xem thân thể là gông cùm hoặc vật chứa hữu hạn của linh hồn.
    • Bước ngoặt lý thuyết hiện đại:
      • Friedrich Nietzsche: Triết gia đặt nền móng cho việc đề cao thân thể, tuyên bố "Cần phải lấy thân thể làm chuẩn mực", coi thế giới là sự diễn giải của thân thể và ý chí quyền lực.
      • Maurice Merleau-Ponty: Trong Hiện tượng học tri giác (1945), ông khẳng định "Thân thể là phương tiện chung để chúng ta chiếm hữu thế giới" và bản chất thân thể là một "không gian biểu đạt", chứng minh tinh thần và lý tính bắt nguồn từ tri giác thân thể.
      • Michel Foucault: Khai phá hướng nghiên cứu chính trị thân thể (politics of the body), chỉ ra thân thể là đối tượng chịu sự tác động, trừng phạt và quy huấn của các thiết chế quyền lực xã hội.
      • John O'Neill: Trong Five bodies: Re-figuring Relationships (2004), phân chia thân thể thành thân thể sinh lí và thân thể mang tính giao tiếp (gồm 5 hình thái: thân thể thế giới, thân thể xã hội, thân thể chính trị, thân thể tiêu dùng và thân thể y học).
      • Shaun Gallagher: Công trình How the Body Shapes the Mind (2005) phân biệt ý thức thân thể và đồ thức thân thể trong hoạt động hình thành nhận thức.
      • Bryan S. Turner: Xuất bản Thân thể và xã hội (1984), đề xuất khái niệm "xã hội mang tính thân thể" (Somatic society), xem thân thể vừa là cấu trúc vật chất vừa là ẩn dụ xã hội.
      • Chris Shilling: Trong Thân thể và lí luận xã hội (1993), định nghĩa thân thể là "hiện tượng chưa hoàn thành kiêm tính sinh vật và tính xã hội".
      • Richard Sennett: Tác phẩm Nhục thể và đá – thân thể và thành thị trong văn minh phương Tây (1994) phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa thể nghiệm thân thể và không gian đô thị.
      • Jean Baudrillard: Trong Xã hội tiêu dùng, vận dụng kí hiệu học để phân tích tính kí hiệu của thân thể trong nền kinh tế tiêu dùng.
      • Hélène Cixous: Với Tiếng cười nàng Medusa, thúc đẩy phong trào nữ quyền và khái niệm lối viết thân thể (body writing).
      • Mikhail Bakhtin: Công trình Sáng tác của F. Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng nghiên cứu về hình tượng thân xác kì dị (grotesque body).
      • David Hillman và Ulrika Maude (biên soạn): Tuyển tập The body in literature tập hợp 17 bài viết về các khía cạnh thân thể như khuyết tật (Jonathan Hsy), ngôn ngữ (Andrew Bennet), tính dục (Heike Bauer), nỗi đau và bạo lực (Peter Fifield), thức ăn (Maud Ellmann), thần kinh học (Ulrika Maude), chủng tộc (David Marriott), phân tâm học (Josh Cohen), công nghệ (Steven Connor), sự già hóa (Elizabeth Barry).
      • Các khóa học chuyên đề tại Đại học Kent (Reading The Body In Eighteenth Century Literature, 2019-2020) và Đại học Edinburgh (Body in Literature, 2018).
      • Richard Shusterman: Khởi xướng mĩ học thân thể (somesthetics) trong tác phẩm Mĩ học thực dụng (2002).
  2. Nghiên cứu về thân thể ở Trung Quốc:

    • Tư tưởng cổ trung đại: Mạnh Tử phân tích khái niệm "thân" (gồm tâm trí là đại thể và thể xác là tiểu thể); Tăng Tử với tư tưởng "quý thân", gìn giữ thân thể do cha mẹ sinh ra.
    • Phong trào sáng tác đương đại: Tập san Nửa thân dưới (Hạ bán thân, 2000) với các phát biểu của Thẩm Hào Ba và Tạp Ngư về việc dùng nhục thể để giải phóng thi ca khỏi các quy ước truyền thống.
    • Tổng kết lý thuyết: Dựa theo công trình Phê bình việc nghiên cứu thân thể ở Âu Mĩ hiện nay (2015) của Âu Dương Sáng Sáng (Trần Đình Sử lược dịch), nghiên cứu thân thể tại Trung Quốc chia thành 4 khuynh hướng: (1) Nghiên cứu quan niệm thân thể truyền thống (Thái Bích Danh 1997, Dương Nho Tân 1998, Trương Diễm Diễm 2005, Lưu Thành Kỉ 2005); (2) Nghiên cứu chính trị thân thể theo Foucault (Ứng Tinh 2003, Uông Dân An 2006, Lưu Tiểu Phong 1998, Khang Anh 2003, Hoàng Hoa 2005); (3) Nghiên cứu hiện tượng học thân thể (Tiền Tiệp 2001); (4) Mĩ học thân thể (Bành Phủ Xuân 2004-2005, Vương Hiểu Hoa).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Nghiên cứu thân thể trong văn học nói chung:

    • GS. Trần Đình Sử là tác giả nghiên cứu sớm về vấn đề này tại Việt Nam: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987) phân tích hình tượng "con người thể chất" và "thân thể chính trị"; bài viết Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê (2006) chỉ ra ngôn ngữ thân thể như một phần của chủ nghĩa tượng trưng; Dẫn luận thi pháp học hiện đại (2017) xác định thân thể là phương diện mới của thi pháp học; Thi pháp Truyện Kiều phân tích chữ "thân" và thân phận trần thế.
    • GS. Phương Lựu: Bài viết Văn chương với thân thể (2016) và Tìm hiểu ngôn ngữ cơ thể (2016) phân tích thân thể như cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong văn học.
    • Mai Anh Tuấn: Khảo sát tự sự thân thể trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp.
    • Nguyễn Văn Nguyên: Nghiên cứu hiện tượng "thân thể sáng tác" trong văn học đương đại Trung Quốc (2009).
    • Trịnh Thị Lan: Phân tích ngôn ngữ thân thể lưỡng tính trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (2012).
    • Nguyễn Thị Minh Thương: Nghiên cứu từ lý luận thân thể của M. Foucault đến chủ nghĩa nữ quyền (2016).
    • Mai Thị Hồng Tuyết: Báo cáo KHCN (2013) về Biểu tượng thân thể trong văn học Việt Nam (dưới góc nhìn kí hiệu học).
    • Các luận văn, bài viết chuyên khảo khác: Nguyễn Khánh Chi (ngôn ngữ thân thể trong Báu vật của đời - Mạc Ngôn), Tạ Thị Thanh Tân (văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư), Phú Thùy Hương (tiểu thuyết Nhất Linh), Lê Trà My (tiểu thuyết Thân phận của tình yêu), Liễu Trương (thơ Nguyên Sa).
  2. Nghiên cứu thân thể trong thơ sau 1986:

    • Nghiên cứu cái tôi trữ tình gắn với thân thể: Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 - cái tôi thế sự đời tư và nỗi đau thân thể); Đặng Thu Thủy (Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới cơ bản - cái tôi cá nhân và tình yêu trần thế gắn với thân xác); Trần Thị Kim (thơ nữ trẻ đương đại).
    • Nghiên cứu thiên tính nữ và yếu tố tính dục: Nguyễn Thị Hồng Giang (khảo sát "Cái Tôi thân xác" qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh); Nguyễn Thị Hưởng (luận án về ý thức nữ quyền và sự tự ý thức vẻ đẹp thân thể nữ); Nguyễn Thị Mai Anh (bàn về yếu tố sex trong thơ hiện đại); Trần Ngọc Hiếu (luận án Lí thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại, phân tích ngôn ngữ thân thể và các khuôn vần biểu thị thân thể bị kìm nén trong thơ Trần Dần); Nguyễn Đăng Điệp (Thơ Việt Nam hiện đại Tiến trình và hiện tượng 2014, phân tích sự xuất hiện của các yếu tố tính dục trong thơ đương đại).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần nhiều khảo sát thân thể ở phạm vi từng tác giả, từng thể loại tự sự, hoặc chỉ xem xét thân thể như một biểu hiện phụ trợ cho cái tôi thế sự, ý thức nữ quyền hoặc yếu tố tính dục. Luận án của tác giả Chung Thị Thúy lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng khung lí thuyết hoàn chỉnh về thân thể trong văn học và đi sâu phân tích toàn diện các phương diện biểu hiện (tự nhiên, xã hội, cá nhân) cùng hệ thống nguyên tắc kiến tạo thân thể mang tính thi pháp đặc thù trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm "thân thể": Luận án thống nhất xem các thuật ngữ "thân thể", "cơ thể", "thân xác" đều tương ứng với khái niệm body trong tiếng Anh. Tuy nhiên, luận án chủ động chọn dùng thuật ngữ "thân thể" làm trung tâm, bởi thuật ngữ "thân xác" (từng được học giả Nguyễn Văn Trung sử dụng) thường gợi liên tưởng đến phần xác thịt vô hồn, trong khi "thân thể" hàm chứa đầy đủ sự sống, các giác quan, cảm xúc và khả năng biểu cảm của con người.
  • Phân biệt "thân thể" và "miêu tả thân thể": "Thân thể" (body) là thực thể tự nhiên và sinh học bao gồm hình thể, giác quan, cảm giác; còn "miêu tả thân thể" là sự tái hiện thân thể bằng chất liệu ngôn ngữ nghệ thuật. Thân thể trong văn học là "ý nghĩa" của lớp ngôn từ kiến tạo văn bản, và trở thành một kí hiệu thẩm mĩ để biểu đạt các tầng nghĩa hiện thực, xã hội và nhân sinh ngoài nó.
  • Khung phân tích: Kết hợp giữa hiện tượng học thân thể (thân thể là chủ thể tri nhận thế giới, trung tâm của cảm giác), kí hiệu học văn hóa (thân thể là một hệ thống kí hiệu biểu đạt) và thi pháp học hiện đại (thân thể là phương diện thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án hoàn toàn thuộc hướng nghiên cứu định tính trong khoa học ngữ văn, phối hợp bốn phương pháp nghiên cứu chính:

Tên phương pháp Nội dung và phạm vi vận dụng trong luận án
Phương pháp kí hiệu học Được sử dụng triệt để trong toàn bộ luận án; xem thân thể là hệ thống kí hiệu đa nghĩa về tự nhiên, xã hội và con người nhằm giải mã các tầng nghĩa ẩn sâu đằng sau ngôn từ nghệ thuật.
Phương pháp thi pháp học Vận dụng để nghiên cứu các nguyên tắc kiến tạo nghệ thuật, tìm hiểu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người đối với các cách thức miêu tả thân thể trong thơ ca.
Phương pháp loại hình Sử dụng để phân lập, hệ thống hóa các kiểu loại thân thể cơ bản trong tiến trình văn học Việt Nam và xác định các kiểu loại thân thể đặc thù của thơ trữ tình sau 1986.
Phương pháp lịch sử, văn hóa Khảo sát bối cảnh văn hóa - xã hội thời kỳ Đổi mới và những biến động lịch sử tác động trực tiếp đến sự hình thành các kiểu loại và nguyên tắc miêu tả thân thể tương ứng.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Luận án khảo sát các tập thơ, bài thơ trữ tình Việt Nam xuất bản từ sau năm 1986 đến nay của nhiều thế hệ tác giả tiêu biểu như: Thu Bồn, Lê Nhược Thủy, Nguyễn Quang Thiều, Bằng Vũ, Ngân Hoa, Lê Thị Mây, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Trần Dần, các nhóm sáng tác đương đại (nhóm Mở miệng, nhóm Ngựa trời)... Đồng thời, nguồn tư liệu còn mở rộng khảo sát các văn bản thơ ca trung đại, Thơ Mới (1932–1945) và thơ ca cách mạng (1945–1975) để phục vụ cho việc đối sánh lịch sử thi pháp.


Nội dung chính theo từng chương

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÂN THỂ

Chương 1 tập trung tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề thân thể trên thế giới (phương Tây, Trung Quốc) và ở Việt Nam, đồng thời đúc kết các quan niệm cơ bản về thân thể trong lịch sử nghệ thuật nhân loại:

  • Khái quát lịch sử tư tưởng: Phân tích tiến trình vận động từ quan niệm nhị nguyên xem nhẹ thể xác thời cổ - trung đại đến bước ngoặt hiện đại hóa quan niệm thân thể qua các lý thuyết của Nietzsche, Merleau-Ponty, Foucault, Turner, Shilling, Baudrillard và Cixous.
  • Quan niệm về thân thể trong nghệ thuật:
    • Đề cao vẻ đẹp tự nhiên của thân thể: Thể hiện qua điêu khắc cổ đại Hy Lạp (tượng Vệ nữ Milo, tượng David của Michelangelo), hội họa (nụ cười nàng Mona Lisa của Leonardo da Vinci), sử thi thần thoại (vẻ đẹp của thần Apollon, nữ thần Hera, nữ thần Rạng đông) và văn học Phục hưng (sắc đẹp Juliet trong kịch của W. Shakespeare).
    • Đề cao vẻ đẹp hài hòa thân thể: Thể hiện qua sự cân đối hoàn hảo trong điêu khắc hoặc sự tương phản giữa ngoại hình khiếm khuyết với vẻ đẹp tâm hồn thánh thiện trong văn học (các nhân vật Quasimodo, Gwynplaine của Victor Hugo, người nhạc sĩ mù của V. Korolenko, truyện cổ tích Sọ Dừa).
    • Thân thể và bản năng - Đề cao niềm vui sống và sự hưởng thụ khoái lạc cơ thể: Miêu tả khoái lạc tính dục, ẩm thực, trang phục trong văn học thế giới (Chuyện Mười ngày của Boccaccio, Ivanhoe của W. Scott, Hiệu ánh sáng của các bà của E. Zola, Kim Bình Mai, Thủy Hử, Hồng lâu mộng, tranh dân gian Đông Hồ).
    • Khát vọng giải phóng cơ thể và thân xác: Khảo sát ý thức về sự tàn phai và đòi hỏi tự nhiên của thân thể trong văn học truyền thống (như Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều).

CHƢƠNG 2: THÂN THỂ TRONG VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÂN THỂ TRONG THƠ CA VIỆT NAM

Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về thân thể trong văn học và phác thảo diện mạo thân thể qua các thời kỳ thơ ca Việt Nam:

  • Biểu hiện của thân thể trong văn học:
    • Hình ảnh bên ngoài: Diện mạo, vóc dáng (nét mặt, hàm răng, mái tóc), màu da, mùi hương cơ thể (mùi tóc, mùi da thịt, "dị hương"), các ký hiệu in dấu trên thân thể (hình xăm, vết sẹo trừng phạt của nhân vật AQ, Chí Phèo, Võ Tòng), cùng các hành động cử chỉ (khóc, cười, đi, đứng).
    • Thế giới bên trong thân thể: Cảm giác thể chất và tâm lý (nóng, lạnh, đói, no, đau đớn, cô đơn, ngột ngạt); sự chuyển hóa của cảm giác thành chiều sâu tâm hồn; nội hàm phổ quát của chữ "thân" (thân phận, thân trần thế, bản năng, phần vật chất dễ tổn thương nhưng gắn liền với tâm và mệnh).
    • Đồ vật và không gian biểu đạt: Trang phục (thước đo phong vị, địa vị xã hội, sự biến đổi thời đại như trong Hàn Nho phong vị phú hay thơ Tú Xương); gương lược; không gian tự nhiên và không gian xã hội nơi thân thể tồn tại, trải nghiệm cảm giác.
  • Đặc trưng của thân thể trong văn học:
    • Thân thể là một loại kí hiệu thẩm mĩ: Biểu đạt bản sắc cá nhân, bản ngã, danh tính giới/chủng tộc, thể hiện nỗi đau thể xác và tinh thần, biểu thị thế giới nội tâm và đóng vai trò là phương tiện trực tiếp để con người tri nhận thế giới.
    • Thân thể mang tính quan niệm: Gắn liền với sự thức tỉnh và lớn mạnh của ý thức cá nhân qua từng thời đại văn hóa (như sự đối lập giữa tinh thần Đôn Kihôtê và thể xác Panxa).
  • Tiến trình vận động của hình tượng thân thể trong thơ ca Việt Nam:
Giai đoạn văn học Đặc điểm miêu tả thân thể Ví dụ tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Thơ ca trung đại Miêu tả ước lệ, quy phạm; người nữ gắn với nét âm nhu, mảnh mai (mặt hoa da phấn, lưng ong, gót sen); người nam gắn với nét cương kiện, hành động phi thường (râu hùm hàm én). Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du (Truyện Kiều), Nguyễn Công Trứ.
Thơ Mới (1932–1945) Thức tỉnh cảm giác thân thể; miêu tả con người qua cảm xúc tinh vi, trực giác mong manh, nắm bắt sự rung động của da thịt và giác quan trần thế. Xuân Diệu, Thái Can, Thâm Tâm, Bích Khê, Đoàn Phú Tứ.
Thơ ca cách mạng (1945–1975) Thân thể mang tính tượng đài, sử thi, tráng ca; con người thể chất hòa nhập vào tập thể; toàn bộ cơ thể trở thành cơ quan cảm thụ hiện thực chiến đấu và hi sinh cho lý tưởng dân tộc. Tố Hữu, Lê Anh Xuân.
Thơ trữ tình sau 1986 Giải phóng thân thể khỏi tính quy phạm và lý tưởng hóa; thân thể trở về chiều kích trần thế, đa diện (tự nhiên, xã hội, cá nhân); xuất hiện các cách tân trong nguyên tắc kiến tạo. Thu Bồn, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Quang Thiều, Bằng Vũ, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh...

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN CỦA THÂN THỂ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM TỪ SAU 1986 ĐẾN NAY

Chương 3 đi sâu khảo sát các phương diện biểu hiện cụ thể của thân thể trong thực tiễn thơ ca sau năm 1986:

  • Phương diện tự nhiên của thân thể:
    • Thân thể là một phần của thế giới tự nhiên: Con người hòa tan, đồng nhất thể xác với cỏ cây, đất đai, muôn loài bằng bản năng nguyên sinh.
    • Con người cảm nhận thế giới tự nhiên qua thân thể: Chiếm lĩnh thế giới bằng hệ thống giác quan mở rộng (ngửi mùi đất ẩm, xúc giác của da thịt trần chạm vào thiên nhiên, lắng nghe sự sinh sôi tạo vật).
    • Thân thể in dấu ấn quê hương bản quán: Thể xác lưu giữ ký ức không gian cội nguồn, sông nước, đồng bãi của làng quê Việt Nam.
  • Phương diện xã hội của thân thể:
    • Di chứng chiến tranh trên thân thể: Nỗi đau thể xác, thương tật, những vết thương và mất mát hậu chiến in hằn trên cơ thể con người thực tế đời thường (không còn là sự thi vị hóa).
    • Dấu ấn của đói khát trên thân thể: Thể hiện những lam lũ, cơ cực, sự thiếu thốn vật chất của con người thời kỳ khủng hoảng kinh tế và hậu chiến.
    • Dấu ấn kinh tế thị trường trên thân thể: Tác động của lối sống tiêu dùng, đô thị hóa, sự tha hóa hoặc biến đổi diện mạo thể chất trong nhịp sống hiện đại.
  • Phương diện cá nhân của thân thể:
    • Ý thức về cá tính: Khẳng định bản sắc cá nhân riêng biệt, cái tôi độc lập thông qua việc phô diễn và làm chủ hình hài thể xác.
    • Khát vọng sáng tạo: Thân thể trở thành công cụ, chất liệu và nguồn cảm hứng trực tiếp cho hành vi sáng tạo nghệ thuật.
    • Ý thức về căn tính: Tự ý thức sâu sắc về căn tính cá nhân, căn tính phái tính (đặc biệt là cái tôi thân xác đầy kiêu hãnh, đòi hỏi quyền thụ hưởng khoái cảm và giải phóng tính dục của các tác giả nữ).

CHƢƠNG 4: NGUYÊN TẮC KIẾN TẠO THÂN THỂ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1986

Chương 4 phân tích các quy luật và phương thức nghệ thuật được các nhà thơ sử dụng để xây dựng hình tượng thân thể:

  • Nguyên tắc gắn kết thân thể với tự nhiên:
    • Thân thể gắn kết với thế giới động vật: Sử dụng các liên tưởng thể xác với tính chất sinh học, sức sống hoang dã của loài vật.
    • Thân thể gắn kết với thế giới thực vật: Đồng nhất các bộ phận thân thể với hoa lá, mầm cây, quả ngọt, rễ cây.
    • Thân thể gắn kết với các hiện tượng tự nhiên khác: Sự giao hòa giữa cơ thể với nắng, gió, mưa, sấm sét, dòng sông, biển cả.
    • Thân thể gắn với tính giao: Tái hiện hành vi tính giao như một hoạt động tự nhiên, nguyên thủy nhằm hòa nhập trọn vẹn vào vũ trụ tạo sinh.
  • Nguyên tắc trần trụi, lãng mạn hoá thân thể:
    • Nguyên tắc trần trụi hóa thân thể: Miêu tả trực diện các góc cạnh sinh học, sự phàm tục, đau đớn, bệnh tật và nhu cầu thể xác mà không dùng bình phong ước lệ.
    • Nguyên tắc lãng mạn hóa thân thể: Tôn vinh vẻ đẹp say đắm, chất thơ và sự thăng hoa cảm xúc tinh thần gắn liền với thể xác.
  • Nguyên tắc tượng trưng, siêu thực hóa thân thể:
    • Nguyên tắc tượng trưng hóa thân thể: Biến các chi tiết thân thể thành các biểu tượng đa nghĩa mang tính triết luận về nhân sinh và thời đại.
    • Nguyên tắc siêu thực hóa thân thể: Cắt dán, giải cấu trúc, biến dạng hình thể, đưa thân thể vào không gian ảo giác, tiềm thức và giấc mơ.
  • Nguyên tắc gắn kết thân thể với các biểu tượng, ẩn dụ: Thiết lập hệ thống ẩn dụ thân thể nhằm mở rộng trường liên tưởng thẩm mĩ, biến thân thể thành ngôn ngữ chuyển tải các vấn đề văn hóa, lịch sử và nhân sinh.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên phần tự tổng kết của luận án, công trình đạt được ba đóng góp khoa học chủ yếu sau:

  1. Về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa và xác lập một khung lý thuyết tương đối toàn diện về thân thể trong văn học (từ khái niệm, biểu hiện, đặc trưng kí hiệu thẩm mĩ đến phương diện thi pháp học).
    • Xác lập phương pháp luận tiếp cận thân thể như một loại ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, định hướng vận dụng hiệu quả vào nghiên cứu thực tiễn văn học.
  2. Về mặt thực tiễn văn học sử:

    • Hệ thống hóa được các kiểu loại thân thể qua từng giai đoạn vận động của lịch sử thơ ca Việt Nam (từ văn học dân gian, trung đại, Thơ Mới 1932–1945, thơ ca cách mạng 1945–1975 đến thơ ca thời kỳ Đổi mới).
    • Chỉ ra và phân tích sâu sắc các phương diện tồn tại cơ bản của thân thể (tự nhiên, xã hội, cá nhân) trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.
  3. Về mặt thi pháp học nghệ thuật:

    • Xác lập và làm sáng tỏ hệ thống các nguyên tắc kiến tạo thân thể đặc thù trong thơ trữ tình sau 1986 (gắn kết tự nhiên, trần trụi hóa - lãng mạn hóa, tượng trưng hóa - siêu thực hóa, gắn kết ẩn dụ - biểu tượng).
    • Làm rõ sự vận động trong việc kiến tạo thân thể phản ánh bước chuyển biến sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới của văn học Việt Nam thời kỳ đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trọng tâm ở thể loại thơ trữ tình Việt Nam từ sau năm 1986, chưa mở rộng đối sánh đồng bộ với các thể loại tự sự, kịch bản sân khấu hoặc điện ảnh cùng thời kỳ; đồng thời việc bao quát nguồn tư liệu nguyên bản về lý luận thân thể của một số nền văn học khu vực (như văn học Trung Quốc) còn phải dựa qua tài liệu lược dịch.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Vận dụng khung lý thuyết kí hiệu học thân thể để mở rộng khảo sát sang các thể loại văn xuôi, tiểu thuyết và tự sự đương đại Việt Nam.
    • Triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp thân thể trong thơ Việt Nam với thơ ca khu vực Đông Nam Á và thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa.
    • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về mĩ học thân thể (somesthetics) và trào lưu lối viết thân thể (body writing) ở các tác giả nữ thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Ngữ văn, Lý luận văn học, Văn hóa học: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú, tổng thuật chi tiết lịch sử lý thuyết thân thể trên thế giới (hiện tượng học của Merleau-Ponty, chính trị thân thể của Foucault, xã hội học thân thể của Bryan Turner, Chris Shilling, Richard Shusterman) và hệ thống thi pháp thân thể trong văn học Việt Nam.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Phần lý thuyết ở Chương 1, Chương 2 và hệ thống nguyên tắc kiến tạo ở Chương 4 là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy các chuyên đề về Thi pháp học hiện đại, Kí hiệu học văn học, Phê bình nữ quyền và tiến trình Thơ Việt Nam hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn thuật ngữ "thân thể" thay vì "thân xác"?

Tác giả lý giải rằng dù các từ "thân thể", "cơ thể", "thân xác" đều dịch từ body, việc dùng khái niệm "thân xác" (như học giả Nguyễn Văn Trung từng dùng) dễ khiến người đọc liên tưởng thuần túy đến phần xác thịt vô hồn, bản năng sinh học thô ráp. Thuật ngữ "thân thể" mang nội hàm toàn diện hơn, biểu đạt một thực thể sống tràn đầy sức sống, cảm giác, cảm xúc và khả năng biểu cảm tâm hồn.

2. Triết học hiện đại đã mang lại bước ngoặt lý thuyết nào cho việc nghiên cứu thân thể trong văn học?

Triết học hiện đại (khởi đầu từ F. Nietzsche và phát triển rực rỡ qua Hiện tượng học tri giác của M. Merleau-Ponty) đã đảo ngược truyền thống nhị nguyên coi nhẹ thể xác. Thân thể được khẳng định là cội nguồn của mọi tri giác, là điểm xuất phát của tinh thần và lý tính, và là phương tiện cơ bản nhất để con người chiếm lĩnh thế giới. Do đó, trong văn học, thân thể trở thành một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ đặc thù để diễn đạt thế giới quan và nhân sinh quan.

3. Hình tượng thân thể trong thơ trữ tình 1945–1975 khác biệt như thế nào so với thơ sau 1986?

Trong thơ cách mạng 1945–1975 (tiêu biểu là thơ Tố Hữu), thân thể mang tính tượng đài sử thi, con người thể chất hòa nhập trọn vẹn vào con người chính trị vô sản, toàn bộ cơ thể trở thành cơ quan cảm thụ hiện thực chiến đấu và hi sinh cho cộng đồng. Ngược lại, thơ sau 1986 giải phóng thân thể về kích thước trần thế đời thường, miêu tả trực diện nỗi đau hậu chiến, sự đói khát, nhu cầu cá nhân, bản năng tự nhiên và tính dục.

4. Thơ trữ tình sau 1986 phản ánh phương diện xã hội của thân thể qua những nội dung cụ thể nào?

Luận án chỉ ra ba khía cạnh nổi bật của thân thể xã hội: (1) Di chứng chiến tranh in hằn trên thân thể qua nỗi đau thương tật, sự tàn phế thể xác đời thường; (2) Dấu ấn của nghèo nàn, đói khát thời hậu chiến tác động lên hình hài con người; (3) Dấu ấn của kinh tế thị trường, đô thị hóa và văn hóa tiêu dùng làm biến đổi lối sống và diện mạo thể chất.

5. Những nguyên tắc cơ bản nào kiến tạo nên hình tượng thân thể trong thơ sau 1986?

Theo Chương 4 của luận án, có 4 nguyên tắc kiến tạo cốt lõi: (1) Nguyên tắc gắn kết thân thể với tự nhiên (động vật, thực vật, hiện tượng vũ trụ, tính giao); (2) Nguyên tắc kết hợp giữa trần trụi hóa và lãng mạn hóa thân thể; (3) Nguyên tắc tượng trưng hóa và siêu thực hóa thân thể; (4) Nguyên tắc gắn kết thân thể với hệ thống ẩn dụ và biểu tượng nghệ thuật.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986" của tác giả Chung Thị Thúy là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận văn học, tiếp cận thân thể như một loại ngôn ngữ nghệ thuật và hệ thống kí hiệu thẩm mĩ đặc thù. Bằng việc kết hợp các phương pháp kí hiệu học, thi pháp học, loại hình và lịch sử - văn hóa, luận án đã làm rõ sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người qua các thời kỳ, phân tích toàn diện ba phương diện tồn tại (tự nhiên, xã hội, cá nhân) cùng bốn nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ sau năm 1986. Công trình cung cấp hệ thống luận điểm lý luận và tư liệu văn học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam đương đại.