Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Tình hình lịch sử- xã hội thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX Lịch sử xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX nổi bật với hai đặc điểm lớnđó là sự khủng hoảng triền miên của chế độ phong kiến dẫn tới việc thay đổi liên tiếp các triều đại và phong trào quật khởi của nhân dân mà kết tinh là phong trào Tây Sơn. Phạm Nguyễn Du sống trong bối cảnh lịch sử Việt Nam bước vào nửa cuối thế kỉ XVIII, chiến tranh diễn ra liên miên, đầu tiên là nội chiến Đàng Trong, Đàng Ngoài (1545-1592), rồi xung đột Trịnh- Nguyễn (1627- 1672) tranh chấp chính quyền giữa vua Lê, chúa Trịnh thời Lê trung hưng. Nỗi đau khổ đè nặng lên nhân dân,khi chế độ phong kiến đã đến giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, kinh tế suy sụp,nông nghiệp đình đốn nghiêm trọng bởi những chính sách bóc lột thậm tệ phục vụ những cuộc chiến tranh giành quyền đoạt lợi giữa các tập đoàn phong kiến và bởi thiên tai mất mùa xảy ra liên tiếp khiến cho “…nhân dân bỏ cày cấy, trong làng xóm không còn nhà nào có thóc gạo dự trữ…Dân lưu vong bồng bế dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường, giá gạo tăng vọt, dân phần nhiều sống nhờ rau cỏ, đến nỗi ăn cả chuột, rắn, người chết đói ngổn ngang, người sống không còn được một phần mười- Làng nào có tiếng là trù mật cũng chỉ còn năm, ba hộ mà thôi”[21,tr1756]điều này đã được ông thể hiện trong tập thơ Nam hành kí đắc tập của mình.
Công thương nghiệp bị kìm hãm nặng nề bởi chính sách ức thương và chế độ thuế khoá quá mức tàn tệ “Vì trưng thu quá mức, vật lực cạn kiệt không thể nộp nổi, đến nỗi người ta thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề 5 nghiệp. Có người vì thuế sơn sống mà phải chặt cây sơn. Có người vì thuế vải lụa mà phải phá khung cửi. Cũng có kẻ vì phải nộp gỗ cây mà phải bỏ rìu búa, vì phải nộp cá tôm mà xé lưới chài, vì phải nộp mật đường mà không trồng mía nữa, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược.
Nền chính trị thì lộ rõ khủng hoảng khi đất nước liên tiếp bị chia cắt nặng nề. Ở Đàng ngoài, vua Lê thực tế chỉ còn là bù nhìn, không quyền hành không thế lực. Quyền binh tập trung cả vào Chúa chuyên quyền độc đoán, các đời Chúa thi nhau ăn chơi hưởng lạc, mưu toan hãm hại lẫn nhau hơn là lo trị việc nước. Ở Đàng trong thì Chúa Nguyễn ra sức xây dựng chế độ chuyên chế nhằm phục vụ mưu đồ cát cứ lâu dài.Những cung điện nguy nga lộng lẫy của vua chúa đều xây dựng bằng mồ hôi, xương máu của nhân dân.
Nạn mua quan bán tước phổ biến ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, có tiền thì dẫu dốt nát cũng có quan tước, phạm tội cũng được vô can, kỉ cương xiêu đổ, chuẩn mực đạo đức rạn vỡ, không còn tam cường, ngũ thường, chỉ toàn cảnh tôi giết vua, con hại cha, em phản anh vì ngai vàng châu báu và mạng sống ươn hènThời đại Phạm Nguyễn Du là thời đại hết sức sôi động trong lịch sử dân tộc các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng Trong đang lên cơn sốt trầm trọng, ý thức hệ Nho giáo khủng hoảng sâu sắc. Trên bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, khi chế độ phong kiến đến giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Dưới tác động của các biến cố xã hội long trời lở đất ấy tầng lớp nho sĩ phong kiến bị phân háo rõ rệt. Lý tưởng“tu tề trị bình”bị khủng hoảng, hầu hết các nho sĩ có tài năng, đạo đức chân chính đều bế tắc, trong tâm trạng mông lung, hoang mang như Lê Hữu Trác từng than: Tìm đường về Hán chưa xong, Sang Tần thì việc đã không nên rồi.
Bể hồ trôi giạt đôi nơi, Cho người tráng trí ra người cuồng ngông 6 Một số người xa lánh cuộc đời, xa lánh công danh phú quý để“độc thiện kì thân” hoặc lảng tránh chính trị, vùi đầu vào y nghiệp mong thiết thực cứu nhân độ thế tiêu biểu như Lê Hữu Trác có người thì theo nhà Lê một lòng trung thành khi nhà Lê mất luôn mang tâm sự hoài cổ như Nguyễn Hành bà huyện Thanh Quan… có những người lại theo Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…Lại có những người tuy chưa dứt khoát đứng hẳn về phía nhân dân nhưng chính hiện thực xã hội đã giúp họ viết nên những tác phẩm có sức tố cáo chế độ phong kiến, bằng tình cảm chân thực, sâu sắc bằng cái nhìn đầy tính nhân đạo và bằng tài năng văn học của mình Phạm Nguyễn Du thuộc số này.Đội ngũ tri thức nho sĩ đứng trước một lựa chọn riêng, một cách định hướng cuộc đời riêng, nằm trong số đông theo sự an bài của số phận, Phạm Nguyễn Du không mấy băn khoăn về sự khác biệt giữa vua Lê và chúa Trịnh ông chỉ một lòng đèn sách, hăm hở lập công danh. Văn học giai đoạn này đã phát triển theo hướng theo hướng dân tộc hoá rõ rệt, đã bắt rễ vào những vấn đề thiết cốt trong cuộc sống đương đại như chiến tranh phong kiến và tai hoạ của nó, sự thối nát của giai cấp thống trị và cuộc sống cơ cực của nhân dân, thân phận người phụ nữ, tình yêu đôi lứa và những ràng buộc khắc nghiệt của đạo đức phong kiến. Tố cáo những bất công cơ bản của xã hội và thể hiện niềm cảm thông sâu sắc đối với cuộc sống lầm than của người lao động, khẳng định giá trị chân chính của con người, phê phán những thế lực đen tối chà đạp lên con người, khát vọng chính đáng của con người trên mọi lĩnh vực, nhất là tình cảm. Tuy nhiên văn học giai đoạn này vẫn mang những hạn chế và tiêu cực bởi lẽ phản ánh và khái quát chưa đầy đủ sự áp bức, bóc lột nặng nề của giai cấp phong kiến thống trị và nỗi đau khổ cùng cực của nhân dân, những yêu cầu cơ bản của nhân dân về một cuộc sống ấm no, tự do và công bằng.
Tuy cũng có đề cập trong các tác phẩm nhưng còn mờ nhạt thế giới quan của tác giả còn nhiều mâu thuẫn, có những 7 tác phẩm còn đầy tiếng thở than, thể hiện một tâm hồn uỷ mị, một thái độ sợ hãi trước thực tại xã hội. Phạm Nguyễn Du là một Nho sĩ sớm được triều đình trọng dụng, đồng thời là một học giả có công phu nghiên cứu Nho học, đặc biệt là Tống Nho Phạm Nguyễn Du đã thấm nhuần sâu sắc những tín điều cơ bản của Nho Giáo. Tư tưởng tôn quân đã chi phối cả quãng đời làm quan và trước tác của ông khiến ông không thấy hết được hiện thực lớn lao trong thời đại mà ông đang sống đó là sự thối nát suy vong của giai cấp phong kiến nói chung và ý nghĩa xã hội cùng sứ mệnh lịch sử của phong trào nông dân khởi nghĩa. Trước tác của ông đề cao nhà Lê, ca ngợi chính sự Đàng ngoài, phê phán chỉ trích chúa Nguyễn và chính sự Đàng trong.
Ông thương cảm luyến tiếc khi triều đại Lê Trịnh bị ngọn triều vĩ đại của phong trào Tây Sơn nhấn chìm, ông không công nhận nhà Tây Sơn. Tuy nhiên không vì thế mà phủ nhận mặt tích cực trong sáng tác của ông. Phạm Nguyễn Du vẫn trung thành với dòng chính thống nhà Lê, song những biến chuyển dồn dập của xã hội đã lôi cuốn ông phần nào thoát ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của tư tưởng giai cấp xuất thân khi sáng tác đã giúp ông phản ánh thực tại một cách trung thực và khách quan hơn. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 1.Cuộc đời Phạm Nguyễn Du sinh năm 1739, mất vào khoảng năm 1786-1787 nguyên tên là Phạm Vĩ Khiêm, tự là Hiếu Đức và Dưỡng Hiên, tên hiệu là Thạch Động.
Ông là người làng Đặng Điền, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An (nay là xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tổ tiên ông vốn họ Mạc, quê gốc ở Hải Dương chạy loạn vào Nghệ An sau thay tên đổi họ theo dòng họ Phạm. Lớn lên trong một gia đình nho học cha ông thi Hương không đậu trở về sống thanh bần, hiền lành, trung hậu, hoà thuận với mọi người ở quê nhà. Mẹ ông người họ Nguyễn là người phụ nữ rất 8 cần cù, tiết kiệm, mến khách là người con dâu hiếu thảo, được lớn lên trong bầu không khí gia đình ấm cúng và nề nếp là điều kiện tốt cho Phạm Nguyễn Du sớm phát triển đầy đủ tài năng tính cách của mình.
Về bản thân Phạm Nguyễn Du ông là người học giỏi, có tiếng hay chữ từ thuở trẻ. + Năm 1773, ông dự thi Hương, đỗ Giải Nguyên được Triều Đình Lê Trịnh tuyển dụng vào chức Nhật giảng, sau đó bổ chức Huyện tự văn lang Thiêm phó tiến triều cai đạo. + Năm 1779 ông thi đỗ Hoàng giáp khoa Kỉ hợi, được thăng chức Thiêm sai tri Hình Phiên, Hàn lâm viện hiệu thảo kiêm Quốc sử toản du và làm Đốc đồng Nghệ An. Khoảng năm 1786 -1787, nghe tin quân Tây Sơn đã chiếm được thành Phú Xuân, ông chạy lên vùng Thanh chương- Nam Đàn định chiêu mộ quân sĩ để chống lại Tây Sơn, việc chưa thành thì ông bị bệnh và mất tại đó.
Có thể hậu thế không hoàn toàn tán thành cách ứng xử của Phạm Nguyễn Du nhất là kết cục bi kịch của đời ông nhưng những gì Phạm Nguyễn Du đã để lại trong các tác phẩm Nam hành kí đắc tập và Đoạn trường lục mãi luôn được sự đón nhận và ủng hộ của độc giả. Hiện nay Phạm Nguyễn Du được ghi nhận là danh nhân của tỉnh Nghệ An và được xếp trong danh sách các tác gia Việt Nam. Nhà thờ và mộ ông cũng đã được ghi nhận là Di tích lịch sử- văn hoá cấp quốc gia.Sự nghiệp sáng tác của Phạm Nguyễn Du Tuy có cuộc đời khá ngắn ngủi nhưng Phạm Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế số lượng tác phẩm không hề nhỏ, đề cập tới nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn học, quân sự, xã hội, lịch sử. Để làm sáng tỏ đạo lí trong nền học vấn Nho Gia ông soạn Luận ngữ ngu án, viết các bài tựa Tiên, Trung Hậu cho sách Luận ngữ, chia nội dung sách thành bốn mục: Thánh, Học,Sĩ, Chính, có ngọn ngành rõ ràng và sau mỗi đề mục đều có lời bàn của ông.