Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Thể chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết diễn ngôn được nghiên cứu sinh Đỗ Thị Cẩm Nhung thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Phương Chi, bảo vệ năm 2024 thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9 22 01 21).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả luận án chỉ ra rằng từ cột mốc Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đến nay, thể chân dung văn học ở Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và cách tân về phương thức biểu đạt. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tham gia sáng tác thể loại này từ nhiều góc nhìn khác nhau, thu hút sự tiếp nhận sôi nổi của dư luận xã hội, báo chí và giới nghiên cứu. Mở đầu giai đoạn này là hiện tượng phát hành của tập Chân dung và đối thoại (1998) của Trần Đăng Khoa, tiếp nối bởi hàng loạt ấn phẩm gây tranh luận của Nguyễn Quang Lập (Kí ức vụn, Bạn văn, Chuyện đời vớ vẩn), Di Li (Chuyện làng văn), Đặng Thân (Dị-nghị-luận, Đồng-chân-dung). Các tác phẩm này góp phần giúp người đọc khám phá đời sống cá nhân và quá trình sáng tạo của nhà văn, qua đó nhận diện diện mạo văn học Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, thể chân dung văn học giai đoạn sau năm 1986 chưa được hệ thống hóa toàn diện dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn — một phân ngành thuộc ngôn ngữ học và ký hiệu học phát triển mạnh mẽ song hành cùng dụng học từ sau năm 1986. Khoảng trống này đòi hỏi một công trình khảo cứu chuyên biệt nhằm định vị thể tài trên bản đồ văn học sử dân tộc từ góc nhìn diễn ngôn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các nét mới của thể chân dung văn học trong tương quan với tiến trình đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1986, bổ sung góc nhìn đa chiều và khẳng định giá trị của thể tài trong lịch sử văn học đương đại. Để đạt mục đích này, tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu sâu lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là lý thuyết diễn ngôn của M. Bakhtin, làm cơ sở lý thuyết cho công trình.
  2. Khảo sát các công trình nghiên cứu về thể chân dung văn học trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra các đặc điểm và xu hướng của thể diễn ngôn trong đời sống văn học đương đại.
  3. Trình bày khái niệm hội thoại theo quan điểm của Bakhtin và phân tích ba khía cạnh của diễn ngôn hội thoại gồm: đối thoại, độc thoại nội tâm và tính mạch lạc.
  4. Tìm hiểu xu hướng thế tục hóa của thể chân dung văn học Việt Nam đương đại, làm rõ quá trình đời thường hóa nhân vật đáng kính, sự chuyển dịch điểm nhìn từ xa về gần và các biến đổi diễn ngôn từ thống nhất sang đa tạp, từ sùng bái sang suồng sã, từ nghiêm trang sang hài hước.
  5. Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của diễn ngôn chấn thương; khảo sát các phương diện chấn thương do chiến tranh, phong trào xã hội, giới hạn lịch sử - cộng đồng, sự áp chế quan liêu; nhận diện sự chuyển dịch từ diễn ngôn thời đại sang thân phận, từ ca ngợi sang hoài nghi, từ tin tưởng sang lật tẩy.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tác phẩm chân dung văn học được xuất bản sau năm 1986 tại Việt Nam, tiếp cận ở cả hai bình diện nội dung và hình thức biểu đạt thông qua lý thuyết diễn ngôn.

Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát khoảng 30 cuốn sách chân dung văn học tiêu biểu có sự thay đổi diễn ngôn so với giai đoạn trước năm 1986, cùng một số tác phẩm in rải rác:

Tác giả Tác phẩm khảo sát chính Năm xuất bản
Xuân Sách Chân dung nhà văn 1992
Tô Hoài Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Hồi ký 1992, 1999, 2005
Trần Đăng Khoa Chân dung và đối thoại, Người thường gặp 1998, 2001
Ngô Văn Phú Văn chương và người thưởng thức, Chuyện văn chuyện đời (Chân dung văn học) 2000, 2004
Đỗ Lai Thúy Con mắt thơ, Chân trời có người bay, Vẫy vào vô tận 2000, 2002, 2014
Lưu Khánh Thơ Nhà văn qua hồi ức người thân 2001
Nguyễn Lương Ngọc Nhớ bạn 2001
Vương Trí Nhàn Những kiếp hoa dại, Cây bút, đời người, Ngoài trời lại có trời, Có những nhà văn như thế, Cánh bướm và đóa hướng dương 1993, 2002, 2003, 2006
Bùi Ngọc Tấn Viết về bè bạn - Rừng xưa xanh lá, Một thời để mất 2005
Nguyễn Huy Thắng Những chân dung song hành (phần I và II) 2008
Nguyễn Huy Thiệp Giăng lưới bắt chim 2010
Phan Thị Thanh Nhàn Sự cực đoan đáng yêu 2010
Vân Long Những người… “rót biển vào chai” 2010
Nguyễn Quang Lập Bạn văn 2011
Hồ Anh Thái Họ trở thành nhân vật của tôi 2012
Đặng Thân Dị-nghị-luận, Đồng-chân-dung 2013
Ma Văn Kháng Phút giây huyền diệu 2013
Vũ Từ Trang Phía sau con chữ, Nhà văn độc hành độc bộ, Vì ai ta mãi phong trần 2007, 2013, 2017

Ngoài các tác giả trên, luận án khảo sát bổ sung một số tác phẩm xuất bản từ năm 2012 đến 2017 của Di Li (Chuyện làng văn), Bình Nguyên Trang (Sông của nhiều bờ), Nguyễn Quỳnh Trang (Đi về không điểm đến), Nguyễn Tham Thiện Kế (Miền lưu dấu văn nhân), Trần Hoàng Thiên Kim (Đi tìm những giấc mơ), Văn Thành Lê (Như cánh chim trong mắt của chân trời).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu thể chân dung văn học qua hai hệ thống tài liệu: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.

Về tình hình nghiên cứu thế giới, các học giả xác định thể chân dung văn học (literary portrait) nảy sinh từ thời Homer nhưng đạt đỉnh cao tại Pháp vào thế kỷ XVII. Edmund Heier (1987) khẳng định bản chất thể tài là khắc họa các đặc điểm cá nhân qua văn bản miêu tả tiểu sử dài hoàn chỉnh. Nina Ekstein (1992) phân tích chân dung văn học trong các salon xã hội Pháp thế kỷ XVII, gắn với bối cảnh chế độ chuyên chế và sự suy giảm vị thế của quý tộc, qua đó thể loại vừa vinh danh, bất tử hóa cá nhân anh hùng vừa phản ánh thực tại quyền lực. C. N. Wenger (1935) nghiên cứu khía cạnh mỹ học (An Introduction to the Æsthetics of Literary Portraiture), chỉ ra mối liên hệ giữa nguyên mẫu thực tế và hình tượng nhân vật điển hình, phân tích các trường hợp Plato viết về Socrates hay chân dung Cellini, Goethe, Lincoln. B. Bazylova và Baglan Bazylova (2012) trong công trình Kiểu loại chân dung văn học (Typology of Genre of Literary Portraits) xem chân dung văn học là thể tài tổng hợp giữa tư liệu hiện thực và phẩm chất nghệ thuật, phân tích chức năng của nó trong hệ thống sử thi và hồi ký văn học Nga thế kỷ XIX (tiêu biểu qua quan niệm của V. Gogol).

Về nghiên cứu trong nước, tác giả chia các công trình nghiên cứu chân dung văn học Việt Nam thành hai hướng tiếp cận:

Hướng thứ nhất là nghiên cứu khái quát quy luật thể loại và bối cảnh văn hóa xã hội. Nhóm này gồm các công trình nghiên cứu - phê bình của Nguyễn Đăng Mạnh (Chân dung văn học, 1990; Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, 2000), chuyên luận của Nguyên An tức Nguyễn Quốc Luân (Chân dung văn học trong văn học Việt Nam hiện đại, 2010), chuyên luận của Hà Thị Kim Phượng (Thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại, 2022). Ngoài ra có các luận văn thạc sĩ của Phan An Na (2008), Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2014), Nguyễn Thị Thu Hà (2014), các bài viết của Lại Nguyên Ân (1984), Nguyễn Quốc Luân (1986, 1992), Đức Dũng (1996). Nguyễn Quốc Luân xác định thể chân dung thuộc loại hình ký văn học, kết hợp giữa sáng tác và phê bình, đồng thời chỉ ra ý thức cá nhân và ý thức nghề nghiệp sau năm 1930 là nền tảng hình thành thể tài. Hà Thị Kim Phượng nhấn mạnh sự giao thoa ba yếu tố: chất ký (ghi chép xác thực), chất văn (nghệ thuật gợi tả thần thái) và chất phê bình (phân tích, đánh giá đóng góp của tác giả).

Hướng thứ hai tập trung vào các tác gia hoặc tác phẩm cụ thể. Vũ Bằng và Tô Hoài là hai đối tượng được khảo sát nhiều nhất qua các công trình của Ngô Văn Giá (2002), Dương Thị Thu Hiền (2015), Đỗ Thị Ngọc Chi (2022), luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Quang (1996), Nguyễn Thị Ngọc Thủy (2005), Nguyễn Thị Thư (2010). Các tác giả chân dung khác như Ngô Văn Phú, Phan Thị Thanh Nhàn, Bùi Ngọc Tấn, Hồ Anh Thái, Đỗ Lai Thúy được khảo sát trong luận văn của Nguyễn Thế Hiền (2010), Nguyễn Thị Mai Xuân (2012), Nguyễn Song Hào (2015). Trần Đình Sử (2016) khi nghiên cứu nghệ thuật dựng chân dung của Nguyễn Đăng Mạnh chỉ ra khả năng chắt lọc chi tiết đời thường và năng lực truyền thần nhân vật. Vũ Nho (2021) phân tích tính chất chủ quan và tương tác cá nhân trong chân dung văn học của Nguyên An.

Từ việc tổng kết các công trình trên, luận án xác định thể chân dung văn học Việt Nam đương đại có năm đặc trưng:

  1. Đội ngũ sáng tác mở rộng qua nhiều thế hệ, từ thế hệ cao niên (Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Ngọc Tấn) đến thế hệ trung niên (Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Lập, Phan Thị Thanh Nhàn) và các cây bút trẻ (Di Li, Nguyễn Quỳnh Trang, Bình Nguyên Trang, Trần Hoàng Thiên Kim), cùng sự tham gia của các nhà phê bình (Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên, Chu Văn Sơn, Văn Giá).
  2. Số lượng tác phẩm gia tăng mạnh từ sau năm 2000, hình thức công bố đa dạng trên sách in, báo chí và không gian mạng.
  3. Thay đổi mục đích biểu đạt: chuyển từ ca ngợi, ghi chép văn học sử sang tiếp cận đời thường, rút ngắn khoảng cách trần thuật.
  4. Tăng cường tính hư cấu nghệ thuật như một thủ pháp tự sự; tăng tính "khẩu văn" và ngôn ngữ đời thường; phát triển thủ pháp "chân dung kép" (đồng hiện chân dung đối tượng và chân dung tự họa của người viết).
  5. Phân hóa thành ba kiểu loại: chân dung mang tính phê bình văn học, chân dung mang tính báo chí và chân dung mang tính tản văn.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: hầu hết các công trình trước đây tiếp cận thể chân dung dưới góc độ thi pháp học, loại thể văn học hoặc phân tích trường hợp tác giả. Chưa có công trình nào nghiên cứu thể chân dung văn học Việt Nam đương đại một cách hệ thống dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn để làm rõ sự hòa nhịp của thể tài này vào tiến trình dân chủ hóa đời sống văn học từ sau năm 1986.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp thu các quan niệm nền tảng về diễn ngôn (discourse) của Z. Harris (1952), M. Foucault (xem diễn ngôn gồm ba tầng nghĩa: mọi nhận định, nhóm nhận định cá thể hóa, và hoạt động được quy chuẩn), R. Barthes (1970), Bellert, G. Cook, G. Brown và G. Yule; cùng các nhà nghiên cứu Việt Nam như Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hòa, Đỗ Hữu Châu.

Trọng tâm khung lý thuyết của luận án là tư tưởng diễn ngôn của Mikhail Bakhtin. Bakhtin chuyển hướng nghiên cứu ngôn ngữ từ cấu trúc tĩnh tại sang đời sống giao tiếp cụ thể (siêu ngôn ngữ học - translinguistics). Các luận điểm cốt lõi gồm:

  • Bản chất đối thoại (dialogism): Diễn ngôn là không gian tiếp xúc giữa các ý thức xã hội đa tầng; mỗi phát ngôn luôn là mắt xích hồi đáp các phát ngôn đi trước và hướng tới lời đáp trong tương lai.
  • Tính đa thanh, đa giọng (polyphony, multi-voiced): Tác phẩm không bị chi phối bởi giọng điệu độc tôn của tác giả mà dung chứa các tiếng nói độc lập, mâu thuẫn và tương tác lẫn nhau. Luận án dẫn giải ba tầng nghĩa của khái niệm hội thoại qua công trình của G. Morson và C. Emerson (1990): mô hình tương tác giữa lực ly tâm (đối thoại hóa) và lực hướng tâm (độc thoại hóa); ngôn ngữ luôn mang dấu vết lời nói của người khác; xung đột tiềm tàng giữa các kế hoạch phát ngôn cụ thể.
  • Thể loại lời nói (speech genres): Kho tàng các hình thức lời nói phản ánh văn hóa, hoàn cảnh lịch sử và lối sống của từng thời đại cụ thể.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích văn bản và liên ngành:

Phương pháp nghiên cứu Nội dung thao tác kỹ thuật Mục đích ứng dụng trong luận án
Tiếp cận hệ thống Khảo sát mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành chỉnh thể thể tài về nội dung và nghệ thuật. Nhận diện tính toàn vẹn và các quy luật vận động nội tại của thể chân dung văn học.
Phân tích diễn ngôn (chủ đạo) Phân tích ngữ liệu ngôn ngữ gắn chặt với ngữ cảnh tình huống (contextual situation) và cấu trúc ý nghĩa phát ngôn. Phát hiện các đặc trưng diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn thế tục hóa và diễn ngôn chấn thương trong văn bản.
So sánh Đối chiếu phương thức khắc họa nhân vật giữa các tác giả, giữa giai đoạn trước và sau năm 1986. Nhận diện sự biến chuyển của giọng điệu, điểm nhìn và kỹ thuật dựng chân dung qua các thời kỳ lịch sử.
Nghiên cứu liên ngành Vận dụng tri thức văn hóa học, tâm lý học và sử học. Giải mã các nhân tố xã hội, hoàn cảnh lịch sử và tâm lý cá nhân tham gia kiến tạo diễn ngôn văn học.
Vận dụng thi pháp học Khảo sát giọng điệu trần thuật, hệ thống điểm nhìn và cấu trúc biểu đạt. Làm sáng tỏ các bình diện tư tưởng thẩm mỹ được chuyển tải qua diễn ngôn nghệ thuật.

Nguồn ngữ liệu phục vụ phân tích được trích xuất trực tiếp từ các văn bản chân dung văn học xuất bản sau năm 1986 của Tô Hoài, Trần Đăng Khoa, Vũ Bằng, Ngô Văn Phú, Bùi Ngọc Tấn, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Tuân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các nghiên cứu về thể chân dung văn học trên bình diện lý thuyết và thực tiễn lịch sử văn học. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu nước ngoài khẳng định chân dung văn học là thể tài giao thoa giữa tư liệu hiện thực và sáng tạo thẩm mỹ, phản ánh các vấn đề văn hóa, quyền lực và lịch sử. Tại Việt Nam, tác giả chỉ ra hai nhánh nghiên cứu: nhánh khái quát hóa quy luật hình thành, đặc trưng thể loại (Nguyễn Quốc Luân, Hà Thị Kim Phượng) và nhánh nghiên cứu trường hợp cụ thể (tập trung vào Vũ Bằng, Tô Hoài, Nguyễn Đăng Mạnh). Khảo sát thực tiễn văn học sau năm 1986, chương 1 đúc kết các biến chuyển: đội ngũ sáng tác đa thế hệ, số lượng tác phẩm bùng nổ, mục đích trần thuật chuyển sang tiếp cận đời sống thực tế, gia tăng yếu tố hư cấu nghệ thuật, đề cao tính khẩu văn và xác lập mô hình "chân dung kép". Cuối chương, tác giả xác lập cơ sở lý thuyết diễn ngôn của M. Bakhtin, nhấn mạnh tính đối thoại và thể loại lời nói như công cụ phân tích chủ đạo.

Chương 2: Diễn ngôn hội thoại trong thể chân dung văn học Việt Nam đương đại

Chương 2 phân tích diễn ngôn hội thoại qua ba khía cạnh cụ thể trong văn bản chân dung:

  1. Đối thoại trong thể chân dung văn học đương đại:
  • Đối thoại nhằm nắm bắt thần thái đối tượng: Trần Đăng Khoa trong Chân dung và đối thoại sử dụng ngôn ngữ đối thoại trực tiếp, sắc sảo để tái hiện phong cách và cá tính của Lê Lựu quanh sự cố xuất bản tiểu thuyết Chuyện làng Cuội. Ngô Văn Phú trong Văn chương và người thưởng thức dùng đối thoại ngắn để làm nổi bật sự lịch thiệp, thông minh của Thanh Tịnh khi ứng xử với quan chức triều đình Nguyễn Tiến Lãng, hoặc phỏng vấn nhà thơ Tế Hanh nhằm soi tỏ tâm sự sáng tác thơ tình trong thời kỳ đất nước chia cắt.
  • Đối thoại tạo ra những chân dung ấn tượng: Khảo sát tập Chân dung và đối thoại cho thấy trong 22 bài viết (trừ chân dung tự họa) có tới 8 bài tác giả sử dụng hoàn toàn kết cấu đối thoại hỏi - đáp. Thủ pháp đối thoại được khai thác đa dạng: đối thoại trực tiếp với Vũ Tú Nam nhân kỷ niệm 40 năm Hội Nhà văn; trao đổi với Lê Lựu về phong cách thơ văn của Nguyễn Đức Mậu trong Chí Phèo mất tích; đối thoại giả tưởng "mặc áo giấy cãi nhau với ma" để đánh giá tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường; gọi điện thoại đường dài với Lê Lựu ở Matxcơva bàn về thói quen hút thuốc lào; trò chuyện hóm hỉnh với nhân vật đời thường như lão Cháp hay bà cụ Đinh Thị Khuyên (106 tuổi) để nắm bắt triết lý nhân sinh.
  1. Độc thoại nội tâm trong thể chân dung văn học đương đại:
  • Độc thoại nội tâm tạo ra những đồng chân dung, chân dung tự họa: Luận án khẳng định chân dung văn học là "chân dung kép". Nguyễn Tuân khi viết về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng đã đồng thời bộc lộ cái tôi tài hoa, ngông nghênh của chính mình qua hình thức độc tấu tùy bút. Vũ Bằng trong các thiên hồi ức tự thú, tự kiểm thảo chân thành về những lỗi lầm thời trẻ với bạn văn (Nguyễn Bính, Thạch Lam, Ngô Tất Tố) và thẳng thắn vạch trần mặt tối của bản thân cũng như Nguyễn Tuân trong các cuộc chơi. Tô Hoài trong Cát bụi chân ai, Chiều chiều sử dụng độc thoại nội tâm mổ xẻ chính mình: ghi lại động cơ viết văn kiếm sống thực dụng tại hãng giày Bata, những ấu trĩ trong Cải cách ruộng đất, thái độ im lặng khi chứng kiến Xuân Diệu bị kiểm điểm, và sự phân định ranh giới giữa khôn ngoan và thỏa hiệp khi tự ví mình như "con ếch Cuba".
  • Độc thoại nội tâm tạo ra những phát biểu về nghề nghiệp, về con người: Bùi Ngọc Tấn trong Rừng xưa xanh lá mượn truyện Cô gái mồ côi và hòn đảo của Nguyên Bình để nêu triết lý về trách nhiệm đạo đức của người cầm bút trước vấn đề thiện - ác. Vũ Bằng trong Bốn mươi năm nói láo bộc lộ niềm đam mê tận tụy với nghề báo và ghi lại những định hướng chuyên biệt mà ông từng vạch ra cho các cây bút cùng thời như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tất Thứ, Lý Văn Sâm, Phan Du.
  1. Mạch lạc trong thể chân dung văn học đương đại: Phân tích tính mạch lạc liên kết giữa tác phẩm văn học và đời tư nhà văn nhằm tái tạo một chân dung nghệ thuật trọn vẹn; khảo sát sự kết nối diễn ngôn giữa nhiều tác giả cùng viết về một đối tượng để kiến tạo bức chân dung văn học hoàn chỉnh.

Chương 3: Diễn ngôn thế tục hóa trong thể chân dung văn học Việt Nam đương đại

Chương 3 luận giải tiến trình giải thiêng và thế tục hóa thể tài:

  1. Xu hướng thế tục hóa:
  • Khảo sát khái niệm diễn ngôn thế tục hóa và vị trí của nó trong nền văn học sau Đổi mới.
  • Quá trình đời thường hóa các nhân vật đáng kính: các bậc danh gia văn học không còn được đóng khung trong hình tượng tượng đài hay chuẩn mực đạo đức tuyệt đối, mà được miêu tả ở phương diện đời sống phàm trần với đầy đủ thói quen, tật xấu, sở thích cá nhân, các mối quan hệ đời thường và áp lực mưu sinh.
  • Điểm nhìn trần thuật chuyển dịch từ cự ly xa xôi, chiêm bái sang cự ly gần gũi, thế tục, cho phép người viết và người đọc quan sát nhân vật ở khoảng cách đời thường.
  1. Đặc điểm diễn ngôn thế tục hóa:
  • Từ diễn ngôn thống nhất sang diễn ngôn đa tạp: Thay thế một hệ thống giọng điệu đơn nhất mang tính khuôn mẫu bằng sự đan xen của nhiều tầng mức ngôn ngữ và quan điểm thẩm mỹ khác biệt.
  • Từ diễn ngôn sùng bái sang diễn ngôn suồng sã: Sử dụng lời ăn tiếng nói thường nhật, ngôn ngữ sinh hoạt, khẩu ngữ, tiếng lóng của đời sống vỉa hè, bàn trà, chiếu rượu để phá vỡ các quy ước trang trọng.
  • Từ diễn ngôn nghiêm trang sang diễn ngôn hài hước: Sử dụng giọng điệu tự trào, giễu nhại, hóm hỉnh nhằm tạo nên không khí đối thoại bình đẳng và giải phóng nhân vật khỏi tính chất ước lệ, trang nghiêm.

Chương 4: Diễn ngôn chấn thương trong thể chân dung văn học Việt Nam đương đại

Chương 4 nghiên cứu sự định hình của diễn ngôn chấn thương (trauma discourse):

  1. Khái niệm và sự hình thành diễn ngôn chấn thương:
  • Luận giải cơ sở xã hội và tâm lý tạo nên những vết thương tinh thần của giới văn nghệ sĩ trong thế kỷ XX.
  • Nhận diện các nguồn cơn chấn thương: nỗi ám ảnh và mất mát do chiến tranh kéo dài, hoàn cảnh nghèo đói cơ cực của đời sống bao cấp; chấn thương xuất phát từ những giới hạn lịch sử, nhận thức cộng đồng và các phong trào cải tạo tư tưởng; những chấn thương do sự áp chế hành chính, quan liêu của một bộ phận lãnh đạo văn nghệ thời kỳ trước.
  1. Đặc điểm của diễn ngôn chấn thương:
  • Từ diễn ngôn thời đại sang diễn ngôn thân phận: Chuyển dịch mối quan tâm từ các biến cố lịch sử vĩ mô của cộng đồng sang số phận chìm nổi, những bi kịch cá nhân và nỗi đau thân phận của từng cá thể nhà văn.
  • Từ diễn ngôn ca ngợi sang diễn ngôn hoài nghi: Thay thế cảm hứng ngợi ca một chiều bằng sự chất vấn, suy tư, hoài nghi trước các giá trị định sẵn và những biến cố lịch sử đã qua.
  • Từ diễn ngôn tin tưởng sang diễn ngôn lật tẩy: Khước từ cách nhìn nhận tô hồng, trực diện bóc tách các ảo tưởng, phơi bày những ẩn ức tâm lý, những góc khuất số phận và sự thật trần trụi phía sau ánh hào quang văn chương.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo nội dung luận án tự xác định, công trình đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tiếp cận thể chân dung văn học Việt Nam đương đại từ góc độ lý thuyết diễn ngôn, đặc biệt là lý thuyết diễn ngôn hội thoại của M. Bakhtin. Công trình chứng minh rằng sự thay đổi của thể chân dung văn học sau năm 1986 không thuần túy diễn ra ở bình diện kỹ thuật hay phương thức nghệ thuật, mà phản ánh sự chuyển biến sâu sắc trên bình diện tư tưởng, văn hóa và thẩm mỹ của thời kỳ Đổi mới.
  2. Về mặt thực tiễn: Khảo sát và gọi tên ba khuynh hướng diễn ngôn cơ bản (diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn thế tục hóa, diễn ngôn chấn thương), qua đó khẳng định sự hòa nhịp của thể tài vào tiến trình dân chủ hóa văn học và đời sống tri thức xã hội Việt Nam đương đại. Thể chân dung đã kiến tạo được một hệ thống ngôn ngữ tươi mới, khẳng định vị thế một thể tài "năng động, năng sản" (nhận định của Văn Giá), có lịch sử phát triển riêng biệt và xác lập vị trí vững chắc trong tiến trình văn học dân tộc.
  3. Luận án không đề xuất các giải pháp mang tính quản lý hành chính mà đưa ra kiến nghị học thuật: đề xuất giới nghiên cứu văn học sử cần nhìn nhận chân dung văn học như một thể tài độc lập mang tính tổng hợp, cần tiếp tục mở rộng các khung phân tích liên ngành để đánh giá đúng giá trị văn hóa và tư liệu của thể loại này.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án tập trung khảo sát chủ yếu trên nguồn ngữ liệu khoảng 30 đầu sách in tiêu biểu của các tác giả có sự chuyển biến diễn ngôn rõ nét từ sau năm 1986. Do dung lượng và giới hạn đề tài, luận án chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng tác phẩm chân dung xuất bản rải rác trên hệ thống báo in địa phương, tạp chí chuyên ngành, báo mạng điện tử và các trang blog cá nhân — vốn là môi trường phát triển sôi động của thể chân dung sau năm 2000.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng phạm vi ngữ liệu sang các diễn ngôn chân dung trên không gian số (mạng xã hội, diễn đàn văn học trực tuyến), đồng thời kiến nghị so sánh đối chiếu diễn ngôn chân dung văn học Việt Nam đương đại với các giai đoạn văn học trung đại hoặc giai đoạn 1930-1945 để nhận diện rõ nét hơn tiến trình vận động lịch sử của thể loại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Ngôn ngữ học ứng dụng: tham khảo khung phân tích diễn ngôn liên ngành và phương pháp vận dụng lý thuyết M. Bakhtin vào phân tích thể loại ký văn học.
  • Giảng viên đại học giảng dạy các học phần Văn học Việt Nam hiện đại và đương đại, Tiến trình văn học Việt Nam, Thi pháp học: sử dụng các chương 2, 3 và 4 làm tài liệu bài giảng về sự biến đổi thi pháp và ngôn ngữ văn xuôi thời kỳ Đổi mới.
  • Các nhà nghiên cứu và phê bình văn học: phần khảo cứu ngữ liệu chi tiết về các tác giả Tô Hoài, Trần Đăng Khoa, Vũ Bằng, Bùi Ngọc Tấn cung cấp các dẫn chứng văn bản cụ thể phục vụ công tác nghiên cứu tác gia và văn học sử.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn khung lý thuyết diễn ngôn của ai làm chỗ dựa học thuật chính?
Luận án lựa chọn tư tưởng diễn ngôn của Mikhail Bakhtin làm cơ sở lý thuyết trung tâm, kết hợp với các quan niệm diễn ngôn của Z. Harris, M. Foucault, R. Barthes và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam (Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hòa, Đỗ Hữu Châu).

2. Khái niệm "chân dung kép" hay "đồng chân dung" trong luận án được hiểu như thế nào?
"Chân dung kép" chỉ hiện tượng văn bản chân dung văn học đồng thời xuất hiện hai hình tượng: hình tượng đối tượng được miêu tả và hình tượng tinh thần, cá tính, phong cách của chính người viết được bộc lộ qua ngôn từ, giọng điệu và các đoạn độc thoại nội tâm (tiêu biểu như trường hợp Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài).

3. Tác giả nào được luận án dẫn chứng về việc sử dụng kết cấu đối thoại chiếm tỷ lệ lớn trong tác phẩm?
Trần Đăng Khoa trong tập Chân dung và đối thoại (1998) được luận án dẫn chứng với 8 trên 22 bài viết sử dụng hoàn toàn kết cấu đối thoại hỏi - đáp để khắc họa thần thái các nhà văn (như Vũ Tú Nam, Lê Lựu, Nguyễn Đức Mậu).

4. Ba khuynh hướng diễn ngôn cơ bản mà luận án tập trung khảo sát là gì?
Ba khuynh hướng diễn ngôn chủ đạo được luận án triển khai tương ứng trong các chương 2, 3 và 4 là: diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn thế tục hóa và diễn ngôn chấn thương.

5. Luận án lý giải những nguyên nhân nào dẫn đến sự xuất hiện của diễn ngôn chấn thương?
Luận án xác định bốn nguồn cơn tạo ra chấn thương: chiến tranh tàn khốc và nghèo đói thời bao cấp; các phong trào xã hội; giới hạn của nhận thức cộng đồng và lịch sử; sự áp chế hành chính của một bộ phận lãnh đạo quản lý văn nghệ quan liêu thời kỳ trước Đổi mới.

Kết luận

Luận án Thể chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết diễn ngôn của Đỗ Thị Cẩm Nhung là công trình nghiên cứu định tính chuyên sâu về sự chuyển biến của thể chân dung văn học sau năm 1986. Dựa trên việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn hội thoại của M. Bakhtin, tác giả đã hệ thống hóa ba khuynh hướng diễn ngôn nổi bật gồm hội thoại, thế tục hóa và chấn thương qua nguồn ngữ liệu hơn 30 tác phẩm tiêu biểu. Kết quả nghiên cứu khẳng định bước phát triển của thể chân dung cả về hình thức nghệ thuật lẫn ý thức hệ thẩm mỹ, góp phần phản ánh quá trình đổi mới và dân chủ hóa văn học Việt Nam đương đại.