Chương 1: Những vấn đề lí luận chung. Chương 2: Bản sắc văn hóa và vẻ đẹp con người Ê - đê qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn. Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện văn hóa Ê - đê trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng Đăm Săn. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.
Những vấn đề chung về văn hóa và văn học 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nó liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Trong khoa học nhân văn, văn hóa là một trong những khái niệm đã tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú.
Có định nghĩa về văn hóa mang tính chất miêu tả, có định nghĩa mang tính chất lịch sử, có định nghĩa nhấn mạnh vào phương thức ứng xử, khả năng thích ứng của con người với tự nhiên,. Theo thống kê của nhà văn hóa người Mỹ A. Klaxon (tính đến năm 1952) thu thập được 164 các định nghĩa khác nhau về văn hóa trong sách báo phương Tây. Trong cuốn Triết học văn hóa năm 1996, M.S Kagan thu thập được hơn 70 định nghĩa.
Số lượng các định nghĩa về văn hóa đó tăng lên theo thời gian. Theo ông Phan Ngọc đến nay có đến 400 định nghĩa về văn hóa [19, tr. Theo quan niệm của phương Tây “Văn hóa lúc đầu được hiểu là canh tác, trồng trọt” (cultus). Có hai loại trồng trọt, một là trồng trọt ngoài đồng (cultusagri) và hai là “trồng trọt tinh thần tức là sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” [19, tr.
Như vậy, có thể hiểu văn hóa gắn liền với quá trình con người tạo ra các sản phẩm về vật chất và tinh thần, gắn liền với quá trình nâng cấp giáo dục đào tạo con người. Cũng theo quan niệm phương Đông, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “văn” với ý nghĩa là hình thức đẹp đẽ để biểu hiện trong lễ, nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ, trong giao tiếp và ứng xử của con người với đồng loại. Sau này, “văn” được hiểu là vẻ đẹp, “hóa” là biến đổi và hai chữ “văn hóa” gộp lại là sự biến cải, thay đổi làm cho đẹp ra. Trong khi quan niệm về văn hóa của người phương Tây thiên về ứng xử với tự nhiên thì quan niệm văn hóa của người phương Đông thiên về ứng xử xã hội.
13 Theo sự phát triển của nhận thức con người, ý nghĩa của từ “văn hóa” đã được mở rộng. Ở thế kỷ XIX, ông tổ của “nhân học văn hóa” E.Tylor đã viết trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy (1871) ở London với nội dung như sau: “văn hóa là một toàn thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luận lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác mà con người hoạt động với tư cách là thành viên của xã hội” [19, tr. Đến đầu thế kỷ XX, tổ chức UNESCO đã đưa ra một khái niệm về văn hóa mang tính nhân loại cao:“Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà cũng bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [19, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt (1992), văn hóa được định nghĩa là: “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu của đời sống tinh thần (tổng quát); là những kiến thức, tri thức khoa học (nói khái quát); là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; là nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau” [36, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa ra một cách hiểu về văn hóa đơn giản như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [18, tr.
Như vậy, có nhiều cách định nghĩa về văn hóa, các học giả nhìn chung đều tập trung vào định nghĩa khái niệm văn hóa gắn với con người, văn hóa là 14 sản phẩm do con người sáng tạo ra và con người chính là chủ nhân của những nền văn hóa. Văn hóa trở thành một ý niệm có nội hàm phong phú lôi cuốn sự quan tâm của nhiều học giả ở các dân tộc quốc gia. Từ những định nghĩa trên về văn hóa, chúng tôi khái quát một cách hiểu về văn hóa như sau: Văn hóa là hoạt động nhằm biến đổi tự nhiên sẵn có trong thế giới thành tự nhiên mang dấu ấn con người. Trong quá trình đó con người đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mang yếu tố nhân văn.
Văn hóa đồng hành với cuộc sống và sự phát triển đi lên của con người và xã hội. Khái niệm văn học Theo Wikipedia Bách khoa toàn thư mở “Ở Tây Âu trước thế kỷ XVIII, văn học biểu thị tất cả các cuốn sách và văn bản. Trong thời kỳ lãng mạn, văn học được coi là các tác phẩm viết giàu trí tưởng tượng” và hiện nay “văn học theo theo cách nói chung nhất là bất kỳ tác phẩm nào bằng văn bản. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì văn học là dạng văn bản có giá trị nghệ thuật hoặc trí tuệ, thường là do cách thức triển khai ngôn ngữ khác với cách sử dụng bình thường.
Trong các định nghĩa hiện đại hơn, văn học bao hàm cả các văn bản được nói ra hoặc được hát lên (văn học truyền miệng). Sự phát triển trong công nghệ in ấn đã cho phép phân phối và phát triển các tác phẩm văn học điện tử” [41]. Trong luận văn thạc sĩ “Truyện ngắn Kim Lân từ góc nhìn văn hoá”, tác giả Tăng Thị Xuân đã giải thích rất cụ thể khái niệm văn học. Văn học theo nghĩa rộng là thuật ngữ “Gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩm ngôn ngữ.
Nó bao gồm các tác phẩm mà ngày nay có thể xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo” [40, tr. Với nghĩa rộng, ta thấy văn học đồng nghĩa với văn hoá. Còn văn học theo nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn chương “một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tác của văn học thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ” [40, tr.
15 Nhìn chung, văn học dù được giải thích theo cách truyền thống hay hiện đại thì chúng ta đều hiểu đây là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường của người viết đối với đời sống. Tuy nhiên, hiện thực đời sống ấy được dựng lên từ chất liệu cuộc sống kết hợp với sự sáng tạo của tác giả. Cho nên, văn học chính là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Văn học nhiều chức năng nhưng ước chừng có bốn chức năng chính: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giải trí.
Đặc biệt, trong chức năng nhận thức nó giúp con người hiểu biết về nhiều mặt của đời sống, nắm bắt được văn hóa vùng miền của những nơi ta chưa đặt chân tới. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Văn học cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán,. là những thành tố hợp thành cấu trúc tổng thể văn hóa. Trong công trình Mĩ học sáng tạo ngôn từ, tác giả M.Bakhtin xác định: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá.
Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá một thời đại trong nó tồn tại” [17, tr. Do đó, văn học chịu sự chi phối trực tiếp từ môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc. Trong các tác phẩm văn học ta tìm thấy hình ảnh văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của tác giả. Ta bắt gặp bức tranh văn hóa dân gian trong các câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ,.
trong thơ Hồ Xuân Hương. Hay những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc như nghệ thuật pha trà, thú chơi chữ,… được tái hiện trong truyện ngắn và tùy bút của Nguyễn Tuân. Rõ ràng, tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của người nghệ sĩ và cũng là sản phẩm của một thời đại. Nhà văn đắm mình trong không khí thời đại và hình thành tư tưởng thẩm mĩ trong các sáng tác văn chương.
Do đó, nghiên cứu văn học phải đặt nó trong mối quan hệ với văn hoá. Văn học luôn bộc lộ rõ nét bản chất văn hoá của một đất nước, một vùng quê, một dân tộc,… mặc dù người viết có hay không ý thức cần phải truyền 16 tải văn hoá vào sáng tác của mình. Bởi văn học là sự biểu đạt văn hoá một cách hiển nhiên. Đồng thời, văn học còn là phương tiện cất giữ, bảo lưu văn hóa thông qua ngôn từ nghệ thuật.
TS Trần Lê Bảo cũng đã khẳng định điều này “Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hoá, chịu sự ảnh hưởng chi phối trực tiếp của văn hoá mà còn lại một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hoá” [2, tr. Văn học không chỉ chịu sự tác động trực tiếp của văn hóa mà ngược lại văn hóa cũng chịu sự tác động trở lại của văn học ở một số phương diện nhất định. Nhờ có văn học, những sắc màu văn hóa được tái hiện một cách sinh động, nhiều chiều, sắc nét không chỉ ở bề mặt - lớp văn hóa dễ nhận biết (phong tục, tập quán, sinh hoạt, các lễ hội,…) mà nó còn thể hiện ở cả tầng sâu văn hóa qua tính cách, tâm lí cộng đồng. Không chỉ vậy, văn hoá của mỗi dân tộc sẽ được “thanh lọc” vì văn học phản ánh văn hóa theo cách rất riêng đó là tôn vinh những giá trị đẹp và phê phán những văn hóa đã lỗi thời, lạc hậu.