CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG YÊ NHÂN VẶT THƯ SINH TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC ‘THE KY XVIII -NUA DAU THE KY XIX 1. Giới thuyết vỀ nhân vật thư sinh rong truyện thơ Nôm bác học thế kỹ XVI — nữa đầu thể kỹ XIX, 1. Khái niệm nhân vật văm học Nhân vật văn học là yếu tổ không thiểu đối với loại tác phẩm tự sự và kịch" “Trong sách ý lưộn văn học tập 2 — Tác phẩm và thể loại văn học của tác giả Trần inh Sử (chủ biên), nhân vật văn học Ì "khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thé con ng öï Hong tác phẩm văn học ~ cái đã được nhà văn nhận thức, tạo, thé hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” (Trần Đình Sử, 2017, tr. "Từ khái niệm của nhà nghiên cứu Trần Đỉnh Sử, có th hiểu nhân vật văn học là hình tượng con người được nhà văn xây đụng qua quá trình nhận thức hiện thực — tạo hiện thực đó tự những phương tiện nghệ thuật trong tác phẩm văn học “Trong 150 ;luật ngữ văn học, tắc giả Lại Nguyên Ân định nghĩa nhân vật văn học "được hiểu là hình tượng nghệ thuật vỀ con người, một trong những dẫu hiệu về sự ồn ti toàn ven của con người trong nghệ thuật ngôn từ” (Lại Nguyên Ân, 2017, tr.
Lại Nguyên Ân trước hết khẳng định nhân vật văn học là một hình tượng, đây là một yêu tổ quan trọng. Nếu một sự vật được ái hiện một cách đơn thuẫn trong vấn học, thì nó chỉ là một hình ảnh, nhưng khi hình ảnh đô mang những tư tưởng, triết lý, cảm hứng thì sự vật đồ mới trở thành hình tượng. Điều này cho thấy tác giả khẳng định nhân vật văn học chính là đối tượng tác giả gửi gắm những tư tưởng nhất định và có tính ch đích khi xây đựng ong tc phẩm. Đồng thôi, ông công nhắc đến tính toàn vẹn của con người trong tác phẩm văn học.
Tức là, mỗi nhân vật văn học "bắt buộc phải là một hình tượng nghệ thuật có đủ đầy thuộc tỉnh một con người thật "Teo ch phn chí của Aidole ung Nghệ thd oh aD ong te pin nh pin chia vn be ‘hin lạ: Ông cho ng nghệ tuật sự nô phông "ắt cước” thc ti Tương ứng với hình thác mổ phông HS loi tân bo lại pi yy, lo pd dah v a ch, sự với những số phận, tính cách riêng được thể hiện qua các yếu tổ ngoại hình, tâm lý, lời nói, hành động, mối quan hệ với tự nhiên và xã hội. “Trong dịnh nghĩa của tác giá Lại Nguyên Ân còn đề cập đến vấn đề "bên cạnh .eon người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các lo cây, các sinh th hoang đường được gin cho những đặc điểm giống con người” (Lại Nguyên Ân, tr 303) Nhân vật văn học không chỉ là con người, mà còn là đỗ vật, con vật,. được nhân cách hd khi di qua lang kinh văn học. Tiêu biểu cho kiểu nhân vật này lã ở thể loại ngụ ngôn và đồng thoại.
Để trở thành được nhân vật văn học thì các loài vật Ấy phải .được nhân hỏa, phóng chiếu suy nghĩ và cảm xúc để mang đầy đủ đặc tinh eda con người. Bởi con người là đối tượng phản ánh của văn học (nói cụ thể hơn là bản chất xã hội của con người). Văn học làm sao khước từ việc thể hiện con người khi mang. trong mình chức năng nhận thức va giáo dục, nhằm giúp con người hiểu về cuộc đời và chỉnh bản thân mình.
Tác giả đi từ quả trình đưởng tượng— tạo ra một hiện thực thử hai với nhân vật, không gian, thời gian, các sự kiện. đến liên tưởng = gắn kết tắt ả chỉ tết đó thành một chỉnh thể thống nhất trong mỗi quan hệ biện chứng với nhân vật, iện thực th lai được sẵng tạo dựa trên sự phản ánh hiện thực đời sống (di a thé log Khoa học viễn tưởng). Con người chính là trung tâm của xã hội, có thể nói miêu tả con người là phương thức để miễu tả toàn bộ thể giới. “Tôm lại, ni một cảch khái quát, nhân vật văn học là hình ảnh của con người trong biện thực khách quan được tái tạo bằng các thủ pháp văn học qua lãng kính chủ quan của tác giá sau gu tình nhận thức.
Nhân vật văn học có thể là con người hoặc một sinh thể khác, nhân vật đó bắt buộc mang những đặc điểm của con người ở đời sốnghiện thực, Đó là lý do khi đọc một tác phẩm, nhân vật đồ dồ rằng ta chỉ mồi gặp lần đầu iên, nhưng lại đem đến một cảm giác gần gũi, quen thuộc, có khi ta nhĩn thấy chính mình ở nhân vật. "Nếu ở văn bản thông ỉn, độc gã chỉ là người ngoài cuộc để tp nhận, thì đến với văn bản văn học, hờ có nhân vật văn học mà chúng tacó thể mang "đôi giày của nhân vật" để nhập thân và trải nghiệm như một người trong cuộc. Tử guả trình trải nghiệm đó, nhân vật văn học đem đến cái bừng thức và vỡ òa từ bên rong khi chúng a nhìn thấy những vấn đề nhân sinh trong cuộc sống, thậm chí là thấy chính mình ở nhân vật. Tuy nhiên, đồ là tự sự hư cấu hạy phi hơ cu th ta tuyệt nhiên không đồng nhất nhân vật văn học với con người ngoài đời sống, chúng thống nhất nhưng không.
Bởi khi con người ấy đặt chân vào trang van, một điều tắt yếu họ sẽ là "đứa con” được nhà văn tạo ra bằng sự chủ quan của mình, cái chủ quan đó ít nhiều củi phốt đến cách xây dựng nhân vật.Bakitin (đẫn theo Trần Dinh Sử, 2017, 1122) cũng chỉ ra rong mỗi tương quan “nha van ~ nhân vật, cổ hai yếu tổ chỉ phối én sy thể hiện nhân vật trong tác phẩm: lập trường tác giả và bản chất thế loi. Nhân vật là phương thức thể hiện quan điểm sống và cách mà nh văn nhìn nhận, lý giải, đánh giá cuộc sống. Đồng thời, nhân vật văn học được mô tả trong tính xã hội lịch sử su th, tức là mỗi nhân vật gắn với tư tưởng, quan niệm về con người của thời dai tắc phẩm ra đời. Vì vậy mà độc giả không nên phán xét hay chê trách nhân vật văn học.
như một con người hiện hữu trong thời đại của chúng ta. Mỗi thời đại có mỗi cảm quan về con người lý tưởng, cách hành xử như thể nà là đúng mực, như thể nào là phù hợp cũng hoàn toàn khóc nhau. Trong những giải đoạn nhất định, ác phẩm buộc mang trong mình chức năng phục vụ cho mục đích sắng tác nào đó, vỉ vậy mà những hành động, suy nghĩ, ứng xử của con người trong tác phẩm cũng bị chỉ phối. Vậy nên, nhân vật văn học đến cuối cing vẫn chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng, họ có.
đời sống riêng, có cuộc đời riêng của chính họ tong tác phẩm vả trong quá trình tiếp nhận nơi độc giả. Điều quan trọng là độc giả hãy đến với nhân vật văn học bằng trái tim thiện lành, một cái nhìn thấu đáo, tạo dựng cho nhân vật một "cuộc đờ " tốt đẹp thay vì lấy góc nhìn chủ quan của con người khác nhau về không gian lẫn thời gian mà phán xét, chỉ trích họ. "Nhân vật văn học được tác giả dùng những phương thức nghệ thuật mả tái tạo, xây đựng nên, Đủ tiến, nhân vật văn học được tác giá miêu tà bằng chỉ đết qua các phương diện chính: hành động, nội tâm và ngoại bình. Các nhân vật trong văn học cân gian chủ yết được thể hiện thông qua miêu tả hành động, phạm trù nội tâm ít được chú ý, Xuất phát từ tư duy sơ ngộ cùng quan niệm "nhân quả báo ứng”, nhân vật được dựng nên chỉ là những thân vật chức năng” hành động theo một sự "lập.
trình” sẵn để thể mục đích, củng cổ quan niệm của người sing tác. Nhưng khi vấn học bắt đầu thoát khỏi những câu chuyện chỉ qui, thần kỳ mà bước chân vào nghệ thuật đúng nghĩa qua các sáng tác truyền kỳ, con người bước chân vào trang văn không chỉ có bảnh động mã còn được miễu tả thể giới nội tâm phong phú, đa chiễu Bén canh đó, nhân vật văn học còn được miều tả ngoại hìn một cách có chủ đích. 'Ngoại hình của các nhân vật thường miêu tả ngay từ cách tác giả giới thiệu, tính chủ dich nim ở đây. Bởi lẽ, cái ngoại hình được tác giá dùng để giới thiệu đó gắn liền với tích cách và số phận của họ.
Các dấu hiệu về ngoại hình đó được đúc kết thảnh những, "công thức", cuộc đời nhân vật cũng phát triển theo công thức khởi thủy đó. Nếu hoa không ghen, liễu không hờn như Nguyễn Du miêu tả thì chắc có lẽ cuộc đời Kiều đã bằng phẳng, êm ái chứ chẳng phải đầy những sóng gió đoạn trường th kia. Hay chẳng Lý Công (Truyện Lý Công) vừa `Sinh ra khỏi lòng ” đã có "sách cằm tay” bio hiệu một cuộc đời công danh, học hành xắn lạn. Thứ hai, nhân vật văn học được xây dựng bằng ngôn ngữ của nhân vật và ngữ trần huật của tác ii.
VỀ ngôn ngữ nhân vật, ác giš cho nhân vật văn học của mình bộc ộ mình quacácli thoại đối thoại và độc hoạ), Có th nồi, löithoại chính là một trong những phương thức biểu hiện rõ nhất tinh cách, phẩm chất và t nội tâm của nhân vậc Đối với các tắc phẩm tự sự của văn học trung đại, hầu hết nhân vật được xây dựng những lời đối thoại. Mọi đau khổ, thương nhớ hay hạnh phúc, hân. hoạn đều hiển hiện nơi lồi nói. Phải đến Truyện Kiểu, độc thoại nội tâm mới được Nguyễn Du chú ý và xây dựng thành công qua nhân vật Thuỷ Kiểu.
Chính lời độc thoại đó khiến cho cảm xúc của nhân vật được bộc lộ đến kiệt cùng, những suy tư, những trăn trở càng trở nên day đứt hơn bao giờ hết, chân dung của các nhân vật cũng .đa diện nhiều chiều vì có nội tâm đầy phúc tạp, Về ngôn ngữ trằn thuật, trước hết là việc lựa chọn ngôi kể, đây là yêu tổ hết sức quan trọng trong một tác phẩm tự sự. Người đọc cần xác định câu chuyện được trằn thuật theo ngôi thứ mấy và người kế Xếu là ngôi thứ nhất thì ngôi thứ nhất đó đớng ở vị trí nào (ngôi thứ nhất hự thuật hay ngôi thứ nhất hững nhân), người đồ hiễ bt về câu chuyện xây rà ở mức 20 độ nảo. Nếu là ngôi thứ ba thì ngôi đó có bit tắt cả mọi th (toàn tj) hay không hay, chỉ biết một phần (hạn tr).