phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết. NỘI DUNG CHUONG 1. DIEU KIEN, TIEN ĐÈ CƠ BAN CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CUA NGUYEN DU VÀ NGUYEN DU VE NGƯỜI PHU NU 1. Điều kiện chính trị - xã hội và kinh tế - xã hội thế ky XVI — đầu thé kỷ XIX s* Điều kiện chính trị - xã hội Sau thời kỳ thịnh trị của Lê Thánh Tông, nhà nước phong kiến nhà Lê sơ bắt đầu suy thoái về mọi mặt.
Sự suy thoái ay trước hết bat đầu từ tầng lớp cai trị, đó là sự xuất hiện của các ông “vua quỷ” Lê Uy Mục (1505-1509), “vua lợn” Lê Tương Dực (1509-1516). Nhà vua hoang dâm vô độ, ăn chơi chác táng, cho xây dựng nhiều đền đài, cung điện. Dưới các ông vua này là hệ thống quan lại hoành hành ngang ngược, lợi dụng chức quyên dé tham 6 công quỹ và vơ vét tài sản của nhân dân. Chính từ nguyên do đó mà sự mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa triều đình phong kiến và nhân dân trong ngày càng trở nên gay gat.
Mặc dù trong thời gian nam giữ ngai vàng, Lê Thánh Tông đã dẫn dắt và xây dựng được một bộ máy nhà nước tương đối ôn định và phát triển. Tuy nhiên sang đến thế ky XVI, do sự suy thoái trong chính đội ngũ vua quan ma sự ôn định và thế cân bằng trước đây đã bị phá vỡ, những mâu thuẫn cũ trong xã hội ngày càng trở nên gay gắt hơn. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn mới tiếp tục nảy sinh càng cho thấy rõ sự lạc hậu, bất lực của chế độ. Nhà nước phong kiến đã trở thành đối tượng đấu tranh của các phong trào nông dân khởi nghĩa.
Họ đều là những người bị bóc lột thậm tệ bởi nhà nước phong kiến đương thời, chính chế độ ấy đã khiến họ trở nên ban cùng hóa và buộc phải đấu tranh dé tự giải thoát chính minh. Ở giai đoạn nay, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra trên khắp cả nước nhưng cuối cùng đều thất bại. Tuy không thể lật đồ triều đình Lê sơ nhưng những cuộc khởi nghĩa đó một mặt 10 cho thấy sự suy yêu của nhà nước phong kiến đương thời, mặt khác thé hiện được nhu cầu, khát khao của nhân dân về một xã hội thái bình, thịnh trị. Lợi dụng sự suy yếu, rối loan của triều đình Lê sơ, Mạc Dang Dung (1483 — 1541) âm mưu lật đỗ nhà Lê dé giành lấy quyền chấp chính.
Năm 1526 Mạc Dang Dung giết vua Lê Chiêu Tông (1516 — 1522), tháng 6 năm 1527 bắt ép vua Lê Cung Hoàng (1522 - 1527) nhường ngôi cho mình. Việc Mạc Dang Dung lật đồ nhà Lê, thành lập nhà Mạc đã gây nên làn sóng phản đối dữ dội từ đội ngũ trí thức Nho gia, đặc biệt là những vị công thần và sĩ phu khoa bảng lúc bấy giờ như Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Đàm Thuận Huy, Nguyễn Duy Tường. Hình thành trong một bối cảnh danh không chính, ngôn không thuận đồng thời vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ đội ngũ nhà Nho, nhà Mạc phải tìm biện pháp dé bảo vệ được ngôi vị của mình. Trong lúc đó, nhà Minh ở phương Bắc cũng cử một đạo quân xuống phía Nam, phao tin muốn xâm chiếm nước ta.
Mạc Đăng Dung sợ hãi quyết định chủ động đầu hàng, nộp số sách và cắt đất 5 động ở phía đông bắc cho nhà Minh nhằm kêu gọi sự hậu thuẫn từ phía chúng đồng thời tìm cách đối phó với những người trung thành với triều dình nhà Lê. Chính hành động “cõng rắn cắn gà nhà” đó của Mặc Đăng Dung đã làm nhân dân va quan lại chán nan, phan nộ. Nhà Mạc ngày càng thé hiện sự yếu kém và dan rơi vào thé bị cô lập. Trong tình cảnh đó, các tập đoàn phong kiến khác đã mượn danh “phù Lê diệt Mac” dé thành lập một triều đại mới là Lê Trung Hưng (ở Thanh Hóa).
Chính sự xung đột giữa nhà Mạc và nhà Lê Trung Hưng là nguyên nhân dẫn tới sự hình thành Nam Bắc triều ở giai đoạn sau. Trong đó Nam triều do họ Trịnh lấy danh nghĩa phù Lê quản lý từ địa phận Thanh Hóa trở vào, còn Bắc triều do nhà Mạc cai quản tại miền Bắc. Cuộc chiến giằng co giữa hai thế lực phong kiến này diễn ra liên tục trong gần 50 năm với 38 chiến dịch lớn nhỏ. Mãi đến năm 1592, Nam triều mới giành chiến thang, nhà Mạc buộc phải chạy lên Cao Bằng và tồn tại ở đó được khoảng hơn 60 năm thì tan rã.
Ở cuối thé ky XVI, lần đầu tiên trong xã hội Việt Nam cùng lúc có cả vua và chúa, tuy 11 nhiên vua Lê chỉ là coi rối bd nhìn, thực quyền nằm trong tay phủ chúa, chúa Trịnh mới thực sự là người nắm giữ triều đình, cai trị và chỉ huy mọi việc. Khi cuộc xung đột giữa nhà Mạc và Lê — Trịnh kết thúc chưa được bao lâu, thì một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ, đó là sự phân liệt Dang Ngoài — Dang Trong — chiến tranh Trịnh — Nguyễn. Mầm mống của cuộc chiến tranh này có nguồn gốc từ chiến tranh Nam — Bắc triều. Năm 1545, sau khi đưa vua Lê lên thay thế, vì đảm bảo quyền lực tuyệt đối của mình mà Trịnh Kiểm tìm mọi cách để diệt trừ phe cánh của Nguyễn Kim mà trước hết là các con trai của ông.
Dé bảo toàn mạng sống, Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Nguyễn Binh Khiêm, chủ động xin vào tran đất ở Thuận Hóa. Lúc ay, nhan thay vung đất Thuận Hóa vô cùng khó khăn Trịnh Kiểm đã chấp thuận. Sau này, ngoài Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng còn được cai quản luôn cả vùng Quảng Nam, sau khi ổn định được vùng đất này, ông còn đem quân ra Thăng Long giúp chúa Trịnh tran áp tàn quân cua nha Mac, sau đó lại trở về Thuận Hóa. Sau khi Nguyễn Hoàng mat, Nguyễn Phúc Nguyên kế nghiệp cha và xây dung là bộ máy chính quyền, dần dần tách khỏi sự phụ thuộc vào họ Trịnh.
Nhận thấy Nguyễn Phúc Nguyên không còn ý quy thuận, họ Trịnh mượn cớ không chịu nộp thuế đem quân tấn công Thuận Hóa. Cuộc chiến tranh Trinh — Nguyễn bắt đầu từ đây. Sau gần nửa thé kỷ với 7 cuộc giao tranh mà không có kết quả, nhân lực và vật lực của hai bên đều hao tổn nặng nề, nhân dân đói khổ lầm than, hai họ Trịnh — Nguyễn đành ngừng chiến, lẫy sông Gianh làm giới hạn chia cắt Đàng Ngoài, Đàng Trong. Xã hội loạn lạc, triều đình bê bối, các tập đoàn phong kiến liên tục tranh đấu.
Trong cùng một lúc, Đại Việt vừa phải đối mặt với cuộc nội chiến vừa phải cảnh giác, đề phòng âm mưu xâm lược đến từ nhà Minh. Nhân dân bị ép vào đường cùng đành phải đứng lên dé nỗi dậy. Có thể nói, trong lich sử phong kiến của Việt Nam, đây chính là thời kỳ rối loạn nhất của triều đình, nó còn kéo theo cuộc khủng hoảng về tư tưởng, ý thức hệ, đạo đức và luân lý của mọi bộ phận, tầng lớp trong xã hội. Trong suốt hai 12 thế kỷ XVII - XVIII chiến tranh Nam - Bắc, chống ngoại xâm, diệt Trịnh, Nguyễn, phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra liên miên.
Cuối thé ky XVIII, đầu thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Biéu hiện rõ nét nhất của sự khủng hoảng ấy chính là sức troi day mãnh liệt với một khí thế chưa từng có của những phong trào nông dân. Dinh cao lúc này là cuộc khởi nghĩa Tay Sơn. Cuộc khởi nghĩa giành thang lợi, đánh đồ các tập đoàn phong kiến thống trị trong nước, đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh xâm lược, lập nên một vương triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ.
Nhưng vua Quang Trung chỉ lên ngôi trong một thời gian ngắn. Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn lại trở nên lục đục. Nhân cơ hội ấy, Nguyễn Ánh trở lại tấn công nhà Tây Sơn, lập nên triều đại nhà Nguyễn. Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình, nhà Nguyễn đã thực hiện được một số chính sách tiến bộ nhưng càng về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đường phản động.
Vì thế, mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và bị trị ngày càng trở nên sâu sắc, nó dẫn tới các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra. Có thé nói rằng, chiến tranh và sự chết chóc chính là nỗi ám anh của nhân dân trong thời kỳ này. Tình hình chính trị bất ôn đã day nhân dân vào tình cảnh khốn cùng, giai cấp thống trị ra sức củng cố quyền lực bằng đủ mọi thủ đoạn phi nhân tính. Điều ay đã khiến con người trong giai đoạn này, đặc biệt là giới trí thức không chỉ biết cúi đầu cam chịu trước sự áp bức của chế độ mà họ đã bắt đầu tìm kiếm con đường để phản kháng.
Sự tiếp xúc ngày càng mở rộng với văn hóa phương Tây một mặt làm nứt vỡ đạo đức thánh hiền, khiến cuộc sống xã hội đảo lộn, nhưng mặt khác cũng tạo ra một sự khởi động về mặt ý thức. Đã đến lúc con người phải thay đôi cách nhìn đời, nhìn người và nhìn số phận của chính mình. Họ đã biết thẩm định lại những giá trị vật chất và tinh thần, rằng giá trị nào đem lại hạnh phúc cho con người, những gì gây đau khổ, chết chóc. Điều đáng nói là những nhà trí thức nhận ra nhưng lại chưa thé tìm 13 được một con đường nào để giải thoát cho bản thân và cộng đồng, sự bế tắc đó chính là bi kịch của giới trí thức thời kỳ này.
Vấn đề về con người là một chủ đề mới và được quan tâm bởi những nhà tư tưởng lúc bấy giờ, dù có nhiều khác biệt song một điểm chung của họ đó là quan điểm lên án chiến tranh. Từ thực tiễn xã hội, họ nhận ra được sự phi nghĩa của những cuộc chiến tranh, bởi chúng không đem lại hạnh phúc, ấm no mà ngược lại đem đến sự khổ đau, ly tán và chết chóc. Họ cho rằng nguyên nhân chính, trực tiếp dẫn đến sự thống khổ của con người là cuộc tranh giành quyền lực giữa các thé lực phong kiến, người dân vô cớ trở thành vật hy sinh cuộc sống êm ấm và thậm chí là cả tính mạng. Từ đó mà những câu hỏi về số phận, cuộc đời của con người bắt đầu trở thành sự trăn trở của những nhà tri thức.
Trong số đó, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du và một số nhà tư tưởng khác đã tinh tế hơn khi phát hiện rằng người phụ nữ mới là nạn nhân đáng thương nhất.