Chương 1 : QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG 1. Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các dòng văn học 1. Tính đến trước 1975 Trong tiến trình văn học dân tộc, văn học dân gian được ra đời từ rất sớm, bao gồm người sáng tác tập thể truyền miệng, lưu truyền trong nhân dân. Những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ… là những giá trị tinh thần cao quý của phần lớn nhân dân lao động, mà chủ yếu thuộc về tầng lớp dưới trong xã hội và một số ít trí thức tham gia sáng tạo văn học dân gian.
Văn học dân gian hay còn gọi là văn học bình dân, văn học truyền miệng ra đời từ thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết. Hơn nữa theo thống kê tính đế cách mạng tháng 8/1945, 90% dân số chưa biết chữ. Những người dân lao động chưa chịu ảnh hưởng của các luồng văn hoá tư tưởng từ bên ngoài còn sống, suy nghĩ một cách đơn giản. Những Tấm Cám, Mị Châu - Trọng Thuỷ, Cây tre trăm đốt, những câu ca dao, tục ngữ là mọt minh chứng hùng hồn cho tư duy hướng thiện.
Và mặc dù cũng có ý thức về bản than, về sự tồn tại của cái tôi nhưng do chịu ảnh hưởng bởi những nguyên tắc, áp chế của xã hội, phần lớn con người còn thụ động cam chịu, chấp nhận lối sống phụ thuộc. Ta cũng bắt gặp trong trang văn của cha ông, hình ảnh những người phụ nữ có ý thức về phẩm giá, tài năng, vẻ đẹp: “Thân em như dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” 11 z Và “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi” Ca dao Thấy mình đẹp, người phụ nữ cũng thấy mình nhỏ bé, cô đơn giữa một nền tảng xã hội bất bình đẳng trọng nam kinh nữ. Chính điều đó khiến cho sự hiện diện, tồn tại của họ giữa nhân gian trở nên thiếu ý nghĩa khi không được phép tự quyết về bất cứ một vấn đề nào có thể liên quan đến bản thân cũng như tham gia đóng góp vào các hoạt động xã hội. Và điều này cũng kéo theo trạng thái tâm lý lo sợ, tự ti thường trực nên người phụ nữ càng không dám tự quyết.
Ẩn sau cái dáng vẻ nhẫn nhịn, cam chịu là cả một nỗi niềm khao khát hạnh phúc tự do, là cả một thái độ phản kháng quyết liệt đôi vối xã hội còn nhiều áp bức bất công, là cả một niềm tin ở hiền gặp lành, ác giả ác báo Điều gì chưa thực hiện được ở ngoài đời người phụ nữ nói riêng, con người nói chung tìm cách thực hiện trong những giấc mơ cổ tích. Cô Tấm trong truyện Tấm Cám là một nhân vật tiêu biểu cho những số phận bi thảm, cho những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của người phụ nữ xưa. Nghèo khổ nhưng hiền lành, nhân ái, vị tha ắt sẽ đươc bù đắp xứng đáng cho những thiệt thòi, hi sinh, mất mát. Hay như Mị Châu trong Truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ dẫu cả tin, nhẹ dạ, ngây thơ nên vô tình gây lên nỗi đau nước mất nhà tan vẫn khẳng định được mình là một tâm hồn trắng trong, tinh khiết như châu ngọc … Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX là giai đoạn của văn học trung đại.
Được hình thành trong lòng xã hội phong kiến nhiều áp bức bất công, các phong 12 z trào đấu tranh đòi quyền lợi, chống áp bức của nhân dân cung liên tiếp nổ ra. Tuy nhiên, chính trong bước đường thăng trầm của lịch sử, văn hoá dân tộc lại vô cùng phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đáng kể là sự xuất hiện của chữ viết, với hai loại hình Hán, Nôm. Với lực lượng sáng tác chính, chủ yếu là tri thức phong kiến có nhiều năm tháng dùi mài kinh sử nơi cửa Khổng sân Trình, được đào tạo trong các lò luyện Hán học, văn học trung đại chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học Trung Quốc nên mang tính quy phạm rõ nét.
Bên cạnh đó là xu hướng đổi mới phá vỡ tính quy phạm. Song song là sự tồn tại của khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dân… Tất nhiên là trong quá trình tiếp thu chịu ảnh hưởng của văn học nước ngoài, văn học trung đại Việt Nam vẫn không ngừng sáng tạo, khẳng định bản sắc riêng của nền văn học dân tộc… Như đã nói, người cầm bút chủ yếu là tri thức phong kiến. Lại cộng thêm 1000 năm Bắc thuộc, tư duy con người lúc này là tư duy phong kiến. Cách cảm, cách nghĩ còn giáo điều, rập khuôn, máy móc.
Và khi đề cập đến người phụ nữ, một mặt vẫn có sự kế thừa tư tưởng của văn học dân gian, mặt khác, “hồng nhan bạc mệnh”, “tài tử đa cùng” cũng được xem là tư tưởng chủ yếu. Những nàng Vũ Nương (Người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ); những nàng cung nữ tài hoa (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều); những nàng Kiều hiếu nghĩa (Truyện Kiều - Nguyễn Du)…, tất cả đều là những người phụ nữ có ý thức sâu sắc về bản thân, luôn bị giằng xé bởi cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao hạnh phúc. Nàng Vũ Nương xinh đẹp, hiếu nghĩa, thuỷ chung, chỉ vì một phút hiểu lầm, nông nổi của người chồng đã phải gieo mình nơi dòng nước. Cô Kiều tài hoa nhất mực cũng bị đưa đẩy vào cái vòng luẩn quẩn của chốn lầu xanh “gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi”… Thậm chí cả Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm của một thời cũng vô cùng lận đận trong đường tình duyên.
Thơ bà đã cất cao tiếng nói 13 z chia sẻ, cảm thông, đồng cảm với những người phụ nữ cùng thời “bảy nổi ba chìm với nước non”. Mặt khác, Hồ Xuân Hương cũng muốn đòi hỏi xã hội, nam giới cần phải có sự trân trọng, tôn trọng những đòi hỏi, kì vọng chính đáng của họ … Thế kỉ XX là thế kỉ của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thế kỉ XX cũng là thế kỉ mà lịch sử dân tộc Việt Nam có nhiều biến động, xáo trộn lớn lao. Từ những năm đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng 8/1945, trong tình trạng một cổ hai tròng, thực dân nửa phong kiến, cơ cấu xã hội Việt Nam cũng có nhiều biến đổi sâu sắc, có nhiều thành phố, thị trấn xuất hiện; có nhiều giai cấp tầng lớp mới: công nhân, thợ thủ công, thương nhân…; có một lớp công chúng có đời sống tinh thần, thị hiếu mới được hình thành.
Đáng chú ý là chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi. Cũng trong điều kiện xã hội thực dân nửa phong kiến, văn hoá Việt Nam đã dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hoá phong kiến Trung Hoa, dần mở rộng tiếp xúc vói văn hoá phương tây mà chủ yếu là văn hoá Pháp. Luồng văn hoá mới đã gây tác động ảnh hưởng lớn tới ý thức, tâm hồn người cầm bút. Viết văn cũng trở thành một nghê nghiệp.
Tất cả khiến cho nền văn học Việt Nam có nhiều đổi mới theo hướng hiện đại hoá. Đồng thời hình thành hai bộ phận (công khai, hợp pháp) và phân hoá thành nhiều xu hướng (lãng mạn, hiện thực) vừa đấu tranh vừa bổ xung cho nhau để cùng phát triển. Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại khẳng định: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi năm của người`” bởi văn học thời kì này đã phát triển với tốc độ quá mau lẹ. Tư duy con người dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội cũng có nhiều đổi mới, thể hiện rõ tinh thần dân chủ.
Cái tôi cá nhân dần được chú trọng, đề cao. Hàng loạt truyện ngắn mang tinh thần phê phán đều cho thấy con người là sản phẩm của hoàn cảnh. Bao người phụ nữ trong trang văn của Nam Cao, 14 z Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đều xuất hiện trong những hoàn cảnh nghèo khó, nhiều thử thách nhưng cũng giàu sức chịu đựng, giàu yêu thương… Trong không khí ngột ngạt, oi bức, giông bão vào mùa sưu thuế ở làng Đông Xá, Ngô Tất Tố đã bắt gặp chị Dậu cũng như bao người phụ nữ Việt Nam mang những nét đẹp truyền thống, đảm đang, tháo vát, chung thuỷ, giàu đức hi sinh. Nhưng chị Dậu hơn họ bởi sức chiến đấu mạnh mẽ lạc quan và tinh thần phản kháng gan dạ trước kẻ thù.
Nhiều người phụ nữ khi bị rơi vào tình cảnh quẫn bách như chị Dậu, nhà nghèo, không có tiền nộp sưu cho chồng, phải bán con, bán chó, rất có thể đã buông xuôi nhưng chị thì không. Ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất, chị lại trở thành chỗ dựa vững chắc cho chồng con và trở thành đốm lửa toả sáng trong đêm Tắt đèn nói riêng và trong lịch sử văn học đương thời nói chung. Qua tác phẩm, nhà văn Ngô Tất Tố muốn đặt ra vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ… Trên trang sách của Nam Cao, ta cũng bắt gặp những người phụ nữ trong Một bữa no, Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó…. Tất cả đều được tái hiện theo một số phận nghèo khổ, đáng thương khiến cho người đọc không khỏi xót xa, đồng cảm….
Song ta cũng khâm phục họ bởi một trái tim nhân ái, vị tha… Cách mạng Tháng 8/1945 bùng nổ, đưa dân tộc Việt Nam bước sang một trang sử mới, lịch sử của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, Mỹ suốt 30 năm, lịch sử của qúa trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Cùng lúc tiến hành hai công việc, nhân dân Việt Nam chưa có điều kiện phát triển đồng đều các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao… nên đời sống nhân dân còn nghèo nàn, lạc hậu, điều kiện giao lưu cũng chỉ hạn chế ở một số nước như Liên Xô, Trung Quốc…. Theo như đường lối lãnh đạo của Đảng lúc này, văn học nghệ thuật là một mặt trận, mỗi nhà văn là một chiến sĩ, đã khiến cho văn học vận động 15 z theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Đồng thời hướng về đại chúng.
Văn học vừa mang khuynh hướng sử thi ca ngợi hào hùng, vừa bộc lộ một cảm hứng lãng mạn cách mạng. Người cầm bút hôm nay chiếm một số lượng đông đảo, đủ mọi thế hệ, mọi tầng lớp. Và tất cả con người của thời cuộc chiến tranh đều nhìn nhận mọi việc từ góc độ chính trị. Con người nói chung, người phụ nữ nói riêng đều được tái hiện là con người tập thể, con người quần chúng.
Con người chưa thực sự trở thành nhân vật trung tâm của tac phẩm.