Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết Nam Bộ viết bằng chữ Quốc ngữ giai đoạn cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX giữ vị trí mở đường đặc biệt quan trọng. Trong số các tác giả tiêu biểu của chặng đường này, Hồ Biểu Chánh được đánh giá là tiểu thuyết gia hàng đầu với khối lượng tác phẩm đồ sộ và sức sống lâu bền trong lòng công chúng. Từ những năm đầu thế kỷ XX cho đến nay, tiểu thuyết của ông vẫn là món ăn tinh thần quen thuộc, gần gũi nhờ ngôn ngữ bình dị, đậm chất hiện thực đời sống và chứa đựng những bài học đạo đức sâu sắc về con người và xã hội Nam Bộ thời kỳ giao thời.

Nhận định về vị trí của nhà văn, khóa luận dẫn lại đánh giá của Thiếu Sơn trên báo Phụ Nữ Tân Văn (số 106, ngày 29/10/1931) khẳng định Hồ Biểu Chánh qua sự quan sát tinh tường đã tạo ra những nhân vật đúng với khuôn mẫu người đời, để nhân vật sống với tính cách, thái độ riêng trong hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, các nhà nghiên cứu sau năm 1975 như Trần Hữu Tá, Hoài Anh, Lê Ngọc Thúy cũng nhấn mạnh sự phong phú của thế giới nhân vật Hồ Biểu Chánh, từ tầng lớp quyền quý đến giới bình dân, nông thôn và đô thị, phản ánh sâu sắc đạo lý truyền thống kết hợp những yếu tố cách tân.

Để làm rõ bản chất từng nhân vật và sự đóng góp của tác giả vào quá trình hiện đại hóa văn học, đề tài xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Chỉ ra một số đặc điểm nổi bật về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.
  2. Khảo sát, làm rõ các phương thức và nghệ thuật xây dựng nhân vật (tên gọi, ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ, hành động).
  3. Khẳng định đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong chặng đầu của quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Đối tượng và phạm vi khảo sát của khóa luận tập trung vào hệ thống nhân vật trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh, phân tích qua ba trục nội dung: cơ sở lý luận và tác giả; phân loại miêu tả các kiểu nhân vật; các phương thức nghệ thuật khắc họa nhân vật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm lý luận văn học về thể loại tiểu thuyết và nhân vật tiểu thuyết từ các công trình nghiên cứu đi trước của Phan Cự Đệ, Phạm Quỳnh, Phương Lựu, nhóm tác giả biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học và nhà nghiên cứu Lê Ngọc Thúy:

  • Khái niệm tiểu thuyết: Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống qua các chặng đường lịch sử, tái hiện các bức tranh phong tục, tập quán, đạo đức xã hội và sinh hoạt giai cấp với cấu trúc linh hoạt.
  • Khái niệm nhân vật tiểu thuyết: Những con người được xây dựng từ nguyên mẫu đời sống kết hợp với tài năng sáng tạo của nhà văn, là phương tiện khái quát tính cách, số phận con người và truyền tải quan niệm thẩm mỹ, bài học đạo lý của tác giả.

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phối hợp sử dụng các phương pháp:

  • Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Đặt các nhân vật vào chỉnh thể hệ thống tác phẩm và bối cảnh xã hội Nam Bộ.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ các chi tiết nghệ thuật, hành vi, ngôn ngữ của nhân vật để rút ra nhận định chung.
  • Phương pháp khảo sát, thống kê: Liệt kê, phân loại các kiểu nhân vật, tên gọi, xuất thân trong các tác phẩm khảo sát.
  • Phương pháp khái quát: Tổng kết các quy luật xây dựng tính cách và giá trị tư tưởng mà tác giả gửi gắm.

Nguồn dữ liệu khảo sát chính bao gồm các tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh như Ai làm được, Chúa tàu Kim Quy, Con nhà nghèo, Khóc thầm, Cha con nghĩa nặng, Thầy thông ngôn, Chút phận lênh đênh, Tân phong nữ sĩ, Tiền bạc bạc tiền, Ngọn cỏ gió đùa, Tại tôi, Cười gượng, Bỏ vợ, Dây oan, Nợ đời, Nhân tình ấm lạnh, Thầy Chung trúng số, Bỏ chồng, Vì nghĩa vì tình, Một đời tài sắc, Cay đắng mùi đời...


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về tiểu thuyết và nhân vật tiểu thuyết

Chương này tập trung phác thảo tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Hồ Biểu Chánh cùng hệ thống khái niệm lý luận làm cơ sở phân tích:

  • Cuộc đời và sự nghiệp Hồ Biểu Chánh:

    • Tên thật là Nguyễn Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; sinh ngày 01/10/1885 tại làng Bình Thạnh, Gò Công, Tiền Giang; mất ngày 04/11/1958 tại biệt thự ở Phú Nhuận, thọ 73 tuổi.
    • Ông có 35 năm làm công chức (từ năm 1906 đến 1946), trải qua nhiều chức vụ tại Sài Gòn, Bạc Liêu, Cà Mau, Long Xuyên, Càng Long, Ô Môn, Phụng Hiệp; từng giữ chức Nghị viên Hội đồng Liên bang Đông Dương, Đốc lý Sài Gòn, Cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh (1946) trước khi lui về Gò Công chuyên tâm sáng tác.
    • Ông được tặng thưởng nhiều huy chương: Khuê bài danh dự bằng bạc (1920), Kim tiền (1921), Monisaraphon (1924), Ordre Royal du Dragon de l'Annam (1927), Ordre Royal du Cambodge (1927).
    • Di sản sáng tác đồ sộ gồm: khoảng 64 tiểu thuyết (trong đó có 11 cuốn phỏng tác tiểu thuyết nước ngoài), 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 2 tác phẩm dịch, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu và phê bình, cùng nhiều bài diễn thuyết, khảo luận.
    • Tiến trình sáng tác chia thành 5 giai đoạn:
      • 1862 - 1913: Giai đoạn tập sự, dịch truyện Nho (Tân soạn cổ tích), viết truyện thơ U tình lục, viết văn xuôi như Ai làm được (1912), Chúa tàu Kim Quy (1913).
      • 1913 - 1932: Giai đoạn trưởng thành, xuất bản 18 cuốn tiểu thuyết nổi bật (Ai làm được [1922], Chúa tàu Kim Quy [1922], Vì nghĩa vì tình [1929], Cha con nghĩa nặng [1929], Khóc thầm [1930], Con nhà giàu [1931], Chút phận lênh đênh [1931]).
      • 1932 - 1945: Giai đoạn sáng tác phong phú với 25 tiểu thuyết (Cười gượng [1935], Thiệt giả giả thiệt [1935], Một đời tài sắc [1935], Đóa hoa tàn [1936], Tân phong nữ sĩ [1937], Tại tôi [1938], Người thất chí [1938], Đoạn tình [1940], Cư kỉnh [1941], Mẹ ghẻ con ghẻ [1943]...), 4 tuồng hát bội, 3 tuồng cải lương, làm Giám đốc tờ Đại Việt Tạp Chí và Nam Kỳ Tuần Báo.
      • 1945 - 1954: Tản cư 9 năm ở Gò Công, sáng tác thêm gần 20 tiểu thuyết và nghiên cứu văn học, luân lý.
      • Sau 1954: Không in sách mới mà đăng báo (Tiếng Chuông, Saigon Mới), viết thêm 4 - 5 truyện, ký ức và khảo cứu lịch sử, tôn giáo.
  • Cơ sở lý luận thể loại: Hệ thống hóa các quan niệm về tiểu thuyết và chức năng của nhân vật trong tác phẩm tự sự hiện đại.


Chương 2: Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Chương 2 phân loại và phân tích hệ thống nhân vật theo hai tiêu chí: tầng lớp xã hội và tính chất thể loại.

1. Nhân vật nhìn theo góc độ tầng lớp xã hội

  • Tầng lớp thượng lưu: Gồm quan chức (quan phủ Trần, bà phủ Hai trong Ai làm được; bà phủ Khánh Long, ông huyện Hàm trong Tiền bạc bạc tiền; quan phủ Tạng trong Nợ đời; ông huyện Khoan, bà Cả Kim trong Tại tôi; ông huyện Trương Hà trong Một đời tài sắc...), hội đồng, cai tổng (hội đồng Chánh trong Khóc thầm; hội đồng Nghĩa, vợ chồng cai tổng Hiếu trong Con nhà nghèo; cậu hội đồng Trương Xuân trong Tình mộng; bà hội đồng Nhân trong Cay đắng mùi đời; hội đồng Lê Hiển Đạt trong Chút phận lênh đênh; cai tổng Bình trong Đóa hoa tàn; cai tổng Lương trong Thầy thông ngôn...) và phú hào (bà hộ Cao trong Ngọn cỏ gió đùa; Lý Thị Nho, Trần Thượng Tự trong Con nhà giàu; mụ Chín Ngành trong Nợ đời; Hai Kiệm trong Những điều nghe thấy...). Nhóm này sống xa hoa, nhà cửa nguy nga, ruộng đất nhiều, nắm quyền lực; đa số ích kỷ, tham lam, sống trên mồ hôi nước mắt của tá điền, một số ít giữ được lối sống tiến bộ, đạo đức.
  • Tầng lớp trung lưu:
    • Nông thôn: Chức sắc làng xã như Hương sư Cù, Hương giáo Răng (Con nhà nghèo), Hương hào Hội (Cha con nghĩa nặng), Hương sư Sắc (Thầy thông ngôn), Hương sư Thiện (Cười gượng), Hương hào Diệu (Khóc thầm)... chia thành hai loại: loại bảo vệ người nghèo, sống thanh liêm và loại lợi dụng chức quyền để trục lợi, dâm ô.
    • Thành thị: Viên chức, trí thức Tây học như thầy thông Trần Văn Phong (Thầy thông ngôn), ông phán Thêm (Thiệt giả giả thiệt), Chí Đại (Ai làm được), đốc tờ Vĩnh Xuân (Tân phong nữ sĩ), đốc tờ Hiển Vinh (Chút phận lênh đênh), bác vật Trọng Quý (Mẹ ghẻ con ghẻ), tú tài Chánh Tâm (Kẻ làm người chịu), tú tài Lâm Thủ Thiệp (Nhân tình ấm lạnh), tú tài Tô Hồng Xương (Cười gượng), trạng sư Xương (Hai khối tình), kỹ sư Trần Văn Cẩn (Những điều nghe thấy)... và nữ trí thức như cô Hai Tân (Tân phong nữ sĩ), Thiên Hương (Một đời tài sắc), Thu Hà (Khóc thầm), cô giáo Lý (Bỏ chồng). Cuộc sống ổn định nhưng thường đứng trước những xung đột giá trị cũ - mới.
  • Tầng lớp bình dân: Chiếm số lượng đông đảo nhất:
    • Nông dân nghèo bị bóc lột: Trần Văn Sửu (Cha con nghĩa nặng), Cai tuần Bưởi, tá điền Cù, Ba Cầm (Con nhà nghèo), Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa)... cần cù, nhẫn nhục, chịu nhiều bất công.
    • Lao động nghèo đô thị: Ông Phán bán vé xe, anh xọp-phơ Chúc (Những điều nghe thấy), bà Sáu làm gạch (Chút phận lênh đênh), chị Hai Tỵ buôn bán (Tơ hồng vương vấn)... sống an phận, chân chất.
    • Thành phần bất hảo: Tư Cu ăn trộm, Tư Tiền cờ bạc lăng loàn (Vì nghĩa vì tình), Hai Rô, Hai Thình trộm cướp (Chút phận lênh đênh)... phản ánh mặt tiêu cực cần bài trừ.
Tầng lớp Thành phần tiêu biểu Nhân vật và tác phẩm dẫn chứng Đặc điểm đời sống / tính cách
Thượng lưu Quan phủ, huyện, hội đồng, cai tổng, phú hào, điền chủ Bà phủ Khánh Long (Tiền bạc bạc tiền), bà phủ Hai (Ai làm được), Vĩnh Thái (Khóc thầm), bà Cả Kim (Tại tôi), Trương Hoàng Kiệt (Một đời tài sắc) Sống giàu sang, nhiều quyền lực; phần lớn ích kỷ, tham lam, cho vay nặng lãi, bóc lột tá điền; một số tiêu xài phung phí.
Trung lưu Chức sắc làng xã, viên chức (thầy thông, thầy ký, thầy phán), trí thức trẻ (bác sĩ, kỹ sư, luật sư), nữ tân thời Hương sư Cù, Hương giáo Răng (Con nhà nghèo), đốc tờ Hiển Vinh (Chút phận lênh đênh), cô Hai Tân (Tân phong nữ sĩ), trạng sư Xương (Hai khối tình) Cuộc sống no đủ, có học thức; chia thành hai nhóm: nhóm có lý tưởng tiến bộ, trọng đạo lý và nhóm đua đòi danh lợi, tha hóa.
Bình dân Tá điền nghèo, người làm thuê, tài xế, người buôn bán nhỏ, thành phần bất hảo Trần Văn Sửu (Cha con nghĩa nặng), Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa), Ba Cầm, tá điền Cù (Con nhà nghèo), Hai Tỵ (Tơ hồng vương vấn), Tư Cu (Vì nghĩa vì tình) Chịu bóc lột nặng nề, cơ cực, thấp cổ bé họng nhưng giàu tình nghĩa, nhẫn nại; một bộ phận nhỏ trôi dạt vào con đường trộm cướp, tha hóa.

2. Nhân vật nhìn theo góc độ tính chất, thể loại

  • Nhân vật chính diện:
    • Phẩm chất lương thiện, vượt nghịch cảnh: Thu Hà (Khóc thầm), Chí Đại (Ai làm được), Thiên Hương (Một đời tài sắc), cô Hạo (Cười gượng), Cẩm Vân (Đoạn tình), Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa).
    • Nhân vật cứu tinh: Giữ vai trò nâng đỡ, cứu vớt các cảnh đời bất hạnh như Bạch Khiếu Nhàn (Ai làm được), Ba Thời (Cay đắng mùi đời), hội đồng Chánh (Khóc thầm), anh thợ Càng (Bỏ vợ), tá điền Cù (Con nhà nghèo), Hòa thượng Chánh Tâm (Ngọn cỏ gió đùa), bà Mỹ Lệ (Nhân tình ấm lạnh)...
    • Nhân vật chính diện cách tân: Phá vỡ khuôn mẫu đạo đức phong kiến, tự do lựa chọn tình yêu, bảo vệ nhân phẩm và quyền bình đẳng giới như Bạch Tuyết (Ai làm được), Thu Vân, Hiển Vinh (Chút phận lênh đênh), Yến Tuyết (Tình mộng), cô Hai Tân (Tân phong nữ sĩ).
  • Nhân vật phản diện, tha hóa:
    • Bản chất xấu xa, tàn ác, dâm ô: Vĩnh Thái (Khóc thầm), Hai Nghĩa (Con nhà nghèo), Trương Xuân (Tình mộng), tú tài Tô Hồng Xương (Cười gượng), Phi Yến (Ngọn cỏ gió đùa), bà Phủ (Ai làm được), Võ Văn Đạt phản bội tổ quốc (Đại nghĩa diệt thân).
    • Tha hóa do ma lực đồng tiền, danh lợi: Văn Phong (Thầy thông ngôn), thầy ký Như Bình (Bỏ vợ), Đỗ Thị (Tiền bạc bạc tiền), thầy Chung (Thầy Chung trúng số), cô Oanh (Bỏ chồng).
  • Nhân vật trung gian: Đứng giữa hai bờ thiện - ác, phạm sai lầm do hoàn cảnh xô đẩy hoặc nhận thức non nớt nhưng biết hối cải, phục thiện: Trần Văn Sửu lỡ tay giết vợ (Cha con nghĩa nặng), Lý Thị Đặng đi tu chuộc tội (Dây oan), Hai Phục trả thù đời rồi thức tỉnh (Nợ đời), Phụng cướp của người giàu giúp người nghèo rồi đi tìm nơi thanh tịnh (Người thất chí), Ba Cầm chém kẻ ác đòi công bằng (Con nhà nghèo).

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Chương 3 đi sâu phân tích các phương thức nghệ thuật được Hồ Biểu Chánh sử dụng để khắc họa thế giới nhân vật:

  • Nghệ thuật miêu tả thông qua tên gọi:
    • Tên gắn liền với số phận: Thu Vân, Cẩm Vân (lênh đênh như mây trôi), Hiển Vinh (tương lai tươi sáng, đỗ đạt), thằng Bi (bi cực thới lai), thằng Được (nhặt được nuôi nấng).
    • Tên mang ý nghĩa đạo đức tốt đẹp: Chí Đại, Hạo, Vĩnh Xuân, Thủ Nghĩa, Hữu Nhơn, Chánh Tâm, Đại Đào.
    • Tên tương phản với bản chất: Như Hoa (tên đẹp nhưng lăng loàn, đanh đá), Hai Nghĩa (bất nhân bất nghĩa, lừa gạt gái nghèo), Trương Xuân (kéo dài tội lỗi), Cao Minh Chiếu, Chí Cao (dùng ngòi bút lừa gạt).
    • Tên dân dã, bình dị Nam Bộ: Đặt theo 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần), theo cây trái Nam Bộ (Bưởi, Cam, Lựu), theo thứ bậc gia đình (Ba Điệp, Sáu Lý, Hai Liền, Tư Chuyên, Ba Thời) hoặc tên gọi thô mộc (Cù, Nuôi, Mau).
  • Nghệ thuật miêu tả ngoại hình:
    • Khắc họa chân thực vẻ đẹp mộc mạc, tự nhiên của thiếu nữ Nam Bộ (Xuân Hương, Thu Hà, Hạo, Cẩm Vân) với áo lụa trắng, quần lãnh đen, đầu gối sở, guốc mộc, ít phấn son nhưng đoan trang, thanh nhã.
    • Tả thực diện mạo cùng khổ của người nông dân (Trần Văn Sửu, Cai tuần Bưởi, tá điền Cù) với áo vải cũ rách, chân đất; đối lập với trang phục nón nỉ, đồ Tây, xe hơi của tầng lớp giàu sang. Tác giả thường bù đắp ngoại hình thô ráp của người nghèo bằng vẻ đẹp đạo đức, đức hạnh.
  • Nghệ thuật miêu tả tính cách: Khắc họa nổi bật đức tính cần cù, nhẫn nhịn, trọng nghĩa khinh tài, vị tha, hiếu thảo của người bình dân Nam Bộ; đồng thời phê phán thói ích kỷ, tàn nhẫn, hợm của của giai cấp bóc lột.
  • Nghệ thuật miêu tả qua ngôn ngữ và hành động:
    • Ngôn ngữ: Sử dụng nhuần nhuyễn lời đối thoại và độc thoại nội tâm. Ngôn ngữ có sự phân hóa rạch ròi giữa lời ăn tiếng nói mộc mạc, hiền lành của giới bình dân và giọng điệu hống hách, chua ngoa, trịch thượng của giới thượng lưu, phản ánh chính xác khẩu ngữ Nam Bộ.
    • Hành động: Thể hiện rõ bản chất qua hành vi nghĩa hiệp, cứu giúp người hoạn nạn (Ba Thời, Bạch Khiếu Nhàn, thợ Càng) hoặc mưu mô, đầu độc, cướp đoạt tàn độc (bà Phủ, Vĩnh Thái); hành động đấu tranh vượt qua lễ giáo phong kiến để bảo vệ tình yêu và lẽ phải (Bạch Tuyết, Thu Vân, Hiển Vinh, Ba Cầm).

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện thế giới nhân vật: Khóa luận đã phân loại chi tiết mạng lưới nhân vật phong phú trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh theo hai hệ thống tiêu chí khoa học: phân tầng giai cấp xã hội (thượng lưu, trung lưu, bình dân) và tính chất thể loại (chính diện, phản diện, trung gian).
  • Chỉ rõ các phương thức nghệ thuật đặc thù: Tác giả làm sáng tỏ nghệ thuật đặt tên giàu tính biểu tượng, nghệ thuật miêu tả ngoại hình - tính cách mộc mạc, cùng việc khai thác ngôn ngữ đối thoại đậm đặc phương ngữ Nam Bộ.
  • Khẳng định đóng góp đối với tiến trình hiện đại hóa: Công trình chứng minh Hồ Biểu Chánh đã mở rộng biên độ miêu tả hiện thực so với văn học trung đại (thoát ly các khuôn mẫu ước lệ như tài tử, giai nhân, vua chúa), đưa con người đời thường thuộc mọi tầng lớp vào văn xuôi tự sự, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của tiểu thuyết chữ Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu mà chưa bao quát được toàn bộ 64 tiểu thuyết trong toàn bộ gia tài sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Việc đánh giá nhân vật ở một số khía cạnh vẫn phụ thuộc vào góc nhìn đạo lý nhị nguyên (thiện - ác đối lập) đúng như kết cấu vốn có trong tiểu thuyết của tác giả.
  • Hướng mở rộng: Mở rộng nghiên cứu đối chiếu thế giới nhân vật của Hồ Biểu Chánh với các tác giả tiểu thuyết cùng thời ở Nam Bộ và Bắc Bộ; nghiên cứu sâu hơn về tâm lý học nhân vật và thi pháp nghệ thuật trần thuật trong giai đoạn văn học giao thời 1900 - 1930.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn, các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.
  • Nội dung giá trị:
    • Bảng phân loại và hệ thống dẫn chứng cụ thể về các tuyến nhân vật theo giai cấp và phẩm chất ở Chương 2.
    • Tư liệu phân tích thi pháp đặt tên nhân vật và nghệ thuật sử dụng khẩu ngữ Nam Bộ trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Hồ Biểu Chánh có bao nhiêu tác phẩm và quá trình sáng tác trải qua những giai đoạn nào?

Theo số liệu thống kê trong khóa luận, Hồ Biểu Chánh để lại hơn 100 tác phẩm, trong đó có khoảng 64 tiểu thuyết (11 cuốn phỏng tác nước ngoài), 12 tập truyện ngắn/truyện kể, 12 vở hài kịch/ca kịch, 5 tập thơ/truyện thơ, 2 tác phẩm dịch, 8 tập ký và 28 tập khảo cứu - phê bình. Sự nghiệp sáng tác trải dài qua các giai đoạn: 1862 - 1913 (giai đoạn tập sự), 1913 - 1932 (trưởng thành), 1932 - 1945 (sáng tác đỉnh cao, phong phú), 1945 - 1954 (tản cư sáng tác tại Gò Công) và sau năm 1954.

2. Nhân vật chính diện cách tân trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có đặc điểm gì nổi bật?

Nhân vật chính diện cách tân không bị ràng buộc bởi các giáo điều luân lý phong kiến công thức mà hành động linh hoạt theo hoàn cảnh cụ thể. Nổi bật nhất là hình ảnh người phụ nữ dám vượt qua lễ giáo, tự do lựa chọn tình yêu và hôn nhân, đòi quyền bình đẳng giới như Bạch Tuyết (Ai làm được), Thu Vân (Chút phận lênh đênh), Yến Tuyết (Tình mộng) và cô Hai Tân (Tân phong nữ sĩ).

3. Kiểu nhân vật trung gian được tác giả xây dựng nhằm mục đích gì?

Nhân vật trung gian là sáng tạo mang tính hiện đại, đứng giữa hai bờ thiện và ác. Nhân vật có thể phạm sai lầm do hoàn cảnh xô đẩy, nhận thức non nớt hoặc bị ma lực tiền tài cám dỗ, nhưng sâu thẳm vẫn giữ bản chất lương thiện, biết ăn năn hối cải và chuộc lỗi (tiêu biểu như Trần Văn Sửu trong Cha con nghĩa nặng, Lý Thị Đặng trong Dây oan, Hai Phục trong Nợ đời, Phụng trong Người thất chí).

4. Tên gọi của nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được đặt theo những nguyên tắc nghệ thuật nào?

Tên nhân vật được đặt theo 4 xu hướng chính: (1) Tên gắn với số phận (Vân, Hiển Vinh, Bi, Được); (2) Tên mang ý nghĩa phẩm chất tốt đẹp (Chí Đại, Hạo, Thủ Nghĩa, Chánh Tâm); (3) Tên tương phản bản chất xấu xa (Như Hoa, Hai Nghĩa, Trương Xuân, Cao Minh Chiếu); (4) Tên bình dân, đậm chất Nam Bộ theo 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần), theo cây trái (Bưởi, Cam, Lựu), thứ bậc gia đình hoặc tên gọi mộc mạc (Cù, Nuôi, Mau).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Diệu Thanh đã tái hiện một bức tranh toàn diện và có hệ thống về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Qua việc khảo sát sự phân tầng xã hội, các loại hình tính cách và phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật, công trình làm nổi bật giá trị hiện thực và tư tưởng đạo đức nhân văn sâu sắc của nhà văn Nam Bộ. Đây là tài liệu tổng hợp học thuật có giá trị tư liệu thực tế, góp phần khẳng định vai trò tiên phong của Hồ Biểu Chánh trong tiến trình hiện đại hóa nền tiểu thuyết văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX.