chương I và chương II của tác phẩm, cả một bộ máy thống trị ở địa phương đã được hiện lên một các cụ thể: đứng đầu là Chánh Tổng, Chánh Hội, rồi đến Lý trưởng, phó lý, lý cựu, cai lệ, lính cơ, trương tuần. Đoạn văn sau đây tuy ngắn nhưng đã phơi bày cả một hệ thống bộ máy thống trị ở địa phương: “Phó lý cuốn áo thâm lên cổ. Chánh hội vắt áo the lên vai, năm sáu ông lý cựu và tộc biểu lệt sệt kéo đôi guốc gỗ đã mòn hết gót. Cả bọn lật đật tiến từ xóm giữa vào đình.
Ai nấy trụt guốc cầm tay, nhảy lên sàn đình, đút guốc vào dưới gậm chiếu rồi ngồi lên trên. Chánh hội vừa khơi mào nói về chuyện thuế thì người nhà lý trưởng lẽ mễ bưng một bộ khay đèn thuốc phiện rước chánh tổng từ nẻo xóm dưới đi lên. Ông cai lệ và hai ông lính cơ hộ tống cụ chánh vào trước cửa đình. Chánh Tổng khoan thai bỏ giày, bước qua một dãy chiếu dưới, để lại mặt chiếu hai hàng dấu chân đầy cát bụi, rồi vắt vẻo ngồi lên chiếc chiếu trên cùng.
Bộ khay đèn tự tay người nhà lý trưởng sang tay hàng cai lệ lên nằm làm bạn với “quan trong tổng”. Ngay từ sớm, cụ Chánh đã có điểm tâm độ vài chục điếu ở nhà lý trưởng, cho nên cụ rất tỉnh táo”. Đây là thời kỳ “mưa âu gió mỹ”,” cũ mới tranh giành”. Văn hoá thời kỳ này đã được nhiều nhà văn phản ánh trong các tác phẩm văn học một cách sâu sắc.
Thời kỳ này, Thực dân Pháp không chỉ dùng chính sách kiểm duyệt và đàn áp sách báo tiến bộ mà chúng còn thi hành chính sách ngu dân. Chúng mở nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng bắt học sinh các trường tư thục từ 18 tuổi trở lên phải đóng thuế thân để con em nghèo không được đi học. Kết quả là hơn 90% nông dân bị mù chữ.
Còn học sinh, sinh viên thì bị đầu độc bởi “chủ nghĩa siêu hình, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa nguỵ biện, chủ nghĩa hoài nghi”. Trong suốt mấy Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 17 Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05> chục năm thống trị, ngoài chính sách đàn áp và chuyên chế, lũ thực dân cáo già còn dùng chính sách mỵ dân, dùng khuynh hướng cải lương để đánh lạc hướng và làm xì hơi phong trào cách mạng. Thực dân Pháp thò tay nham hiểm nắm mấy phong trào văn hoá có xu hướng cải lương tư sản (phong trào âu hoá, vui vẻ trẻ trung, hội ánh sáng, hội hướng đạo.) và những hoạt động tôn giáo nhằm ru ngủ và đánh lạc hướng thanh niên. Thống sứ Stalen rất chăm lo tổ chức thi sắc đẹp và gây phong trào chợ phiên.
Stalen còn là người đỡ đầu cho hội ánh sáng mà hội ánh sáng chỉ là một tổ chức phỏng theo mô hình sẵn có của bọn thực dân, nhằm lôi kéo thanh niên và trí thức vào con đường cải lương tư sản và tất nhiên là có lợi cho đế quốc. Cần phải phân biệt khuynh hướng cải lương này với khuynh hướng tiến bộ do nhân dân lợi dụng khả năng hợp pháp để làm lợi cho mình (hội truyền bá học quốc ngữ). Hội ánh sáng đã phát triển được nhiều chi hội ở các địa phương, lôi kéo được một số viên chức, trí thức, nghệ sĩ. Tất nhiên, dưới cái gậy chỉ huy của Stalen thì hội ánh sáng sẽ gắn với hội hướng đạo, với phong trào chợ phiên, vui vẻ trẻ trung, với những hoạt động cải lương nhỏ giọt, có tính chất lừa phỉnh, mua chuộc quần chúng của thực dân Pháp và bè lũ tay sai.
Phong trào âu hoá, vui vẻ trẻ trung của nhóm tự lực văn đoàn với phong trào chấn hưng phật giáo nhìn bên ngoài có vẻ rất xa lạ với nhau nhưng do vai trò lãnh đạo của thống sứ Stalen nên lại diễn ra một sự kết hợp kỳ lạ giữa hai phong trào đó. Trong đại chiến thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp thi hành chính sách phát xít hoá, khủng bố và kiểm duyệt gắt gao báo chí và các nhà xuất bản, giải tán các hội đồng thuộc địa Nam Kỳ và các viện dân biểu Bắc, Trung kỳ. Mặt khác, chúng còn đẩy bọn Việt gian và bồi bút như Phạm Quỳnh, Phạm Lê Bổng, Bùi Quang Chiêu. hàng ngày tuyên truyền chủ nghĩa đầu hàng, ca tụng một cách trơ trẽn các khẩu hiệu “ Pháp – Việt phục hưng” và „cách mạng quốc gia‟ của tên cáo già bán nước Phê Tanh.
Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 18 Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05> Chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp, sự hưởng thụ thú vui vật chất được coi là tự nhiên khi lễ giáo, tục lệ lùi bước, thì cái ngon, cái đẹp, cái tiện lợi, cái hào nhoáng trở thành có sức hấp dẫn. Những người luống tuổi thì thi nhau đi học, các bậc cha mẹ thúc giục con cái đi học, kiếm lấy ít vốn liếng chữ Tây và hãnh diện về chức thông phán. Cả những cái còn xa lạ hơn sâm banh, sữa bò kiếm được bằng những cách nhục nhã hơn, tội lỗi hơn đã gây ra sự thèm muốn, ước ao. Cái quan trọng không phải chỉ là ở chỗ thay đổi sự thích thú, ở chỗ việc bình thường hoá việc ăn bơ, sữa.
mà còn là sự thay đổi trong đời sống tinh thần, cả tâm lý và cách suy nghĩ. Trong xã hội, xuất hiện những vấn đề mới với cách nhìn mới. ở thành thị, người đủ hạng người, trò đủ trò, thi nhau thanh lịch cũng lắm lối, những của ngon vật lạ hàng ngày tràn về, những nhà hát lộng lẫy, những quán trà lịch sự lôi cuốn, báo chí không ngớt đăng giá cả, tin tức kinh doanh. Người ta cần hưởng thụ , cần tiền, cần tính toán, chạy vạy.
Cuộc sống sôi động, chen chúc, phức tạp đòi hỏi người ta phải nhanh chóng, luôn vận động. Về mặt văn hoá, Phát xít Nhật cũng có nhiều thủ đoạn tuyên truyền xảo trá hòng che giấu bộ mặt xâm lược. Chúng tung ra thuyết đại đông á nhằm ru ngủ mọi người và tìm mọi cách phát triển quan hệ Việt Nam và Nhật như cho học sinh Việt Nam sang Nhật và ngược lại cho học sinh Nhật và giáo sư Nhật sang Việt Nam. Chúng dùng mọi cách để tỏ ra quan tâm đến đời sống và văn hoá của nhân dân Việt Nam.
Tất nhiên những hoạt động từ thiện hoặc tài trợ nói trên không che dấu được những hành động phát xít dã man, tàn bạo của bọn chúng đối với nhân dân ta. Trong phạm vi chưa đầy 5 năm, chính sách văn hoá của Nhật chưa thể lấn át được chính sách văn hoá của thực dân Pháp. Chịu ảnh hưởng của văn hoá thực dân và phát xít, một bộ phận người dân việt Nam đã tiếp thu và đi theo tiếng gọi của nền văn hoá phản động. Họ sẵn sàng đánh mất giá trị truyền thống văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam để đổi lấy một phong cách sống âu hoá, hiện đại.
Để phê phán phong cách “rất Tây” của tầng lớp địa Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 19 Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05> chủ phong kiến người Việt đã có nhiều tác phẩm trong dòng văn học hiện thực phê phán phán ánh hết sức sâu sắc. Đọc Giông Tố của Vũ Trọng Phụng người đọc cũng dễ dàng nhận ra một sự pha tạp, xáo trộn giữa nền văn hoá Đông và Tây. Có thể coi đây là một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ này. ở nông thôn vẫn duy trì một nền văn hoá lạc hậu, hủ tục và tệ nạn.
Giữa chốn bùn lầy nước đọng ấy, nổi lên cuộc sống tủi nhục, xác xơ, tù hãm của những người nông dân quần quật tối ngày như trâu ngựa vẫn không sao lo nổi ngày hai bữa. Bọn hương lý và chức dịch thi nhau đè đầu, cưỡi cổ, bóp nặn dân nghèo làm cho người nông dân không thể ngóc đầu lên được. ở làng Quỳnh Thôn “ chỉ cách xa huyện lỵ chưa đầy mười cây số ‟‟ mà dường như không có ánh sáng văn minh nào lọt tới đến mức “ một trí thức cao cấp” vào loại nhất làng như cụ đồ Uẩn cũng không thể nhận ra bộ mặt thật của bọn hương lý và chức dịch trong làng. Khi đám đông dân chúng hành quân lên cửa quan cũng chỉ là hình ảnh “ Cả bọn lôi thôi lốc thốc kéo nhau ra khỏi làng, trước những cặp mắt toét mà còn tò mò của bọn giai làng, trước những cái mồm cười rất khả ố”.
Người nông dân thì lạc hậu như vậy còn ở thành thị thì một bộ phận người dân sống xa hoa, truỵ lạc, trác táng: “ một xã hội thất vọng truỵ lực, muốn phải làm cho những điều thất vọng phải tan ra khói”, gồm “ông chủ phòng mà Sở Liêm phóng không thương hại, mấy cậu học trò vừa ra khỏi trường mà đã oán giận xã hội không trọng dụng nhân tài, cụ phán già không được cưới thêm vợ, ông nhà văn có sách mới bị cấm, tay chủ báo bị kiện vì tội phỉ báng, tay phóng viên thiếu đầu đề, cô gái nhảy vừa đánh mất nhân tình, nhà tài tử cải lương không có người bao.” Đó là đám khách của Nghị Hách vào ngày nhà tư bản tính sổ doanh thương: “Bọn người mà bề ngoài đủ tỏ ra vẻ doanh nghiệp, vẻ sắc sảo, gian hùng ở những cái mũ cát két, ở những đôi giày ống, ở những cái kính cặp, ở những cái răng vàng. Trong bọn ấy, có anh coi đời như canh bạc lớn, làm việc thiện là để quảng cáo cho mình, Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 20 Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05> làm điều ác mà bắt mọi người phải nhớ thương, đọc đủ các báo chí mà không biết gì về văn chương mỹ thuật, tủ sách đầy những tập kỷ yếu các hội ái hữu nhưng kỳ chung thật không có ai là bạn ở trên đời, cầm đến tờ nhật trình chỉ xem tin thương trường, tin gọi đấu thầu, các đạo nghị định. Lại có anh vùa cổ động kịch liệt cho Hội Phật giáo lại vừa xây hàng dãy nhà săm. Đó là “cái xã hội thượng lưu trí thức trưởng giả quý phái, gồm đủ các quan chức Pháp trong tỉnh, đám khách sang trọng trong bữa tiệc linh đình ở phòng đại sảnh Tiểu Vạn Trường Thành lập vào dịp chủ nhân nhận thưởng bội tinh.