Nghiên cứu các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Chuyên khảo phân tích Luận án các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn việt nam giai, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

210
153
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC TRƯNG VÀ VẤN ĐỀ LOẠI HÌNH HÓA TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI

1.1. Đặc trƣng của truyện ngắn hiện đại

1.2. VẤN ĐỀ LOẠI HÌNH HÓA TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI

1.2.1. Phƣơng pháp loại hình trong nghiên cứu văn học

1.2.2. Loại hình hóa truyện ngắn theo cấu trúc chức năng

1.2.3. Các bình diện và cấp độ nghiên cứu truyện ngắn

2. CHƯƠNG 2: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - KỊCH HÓA”

2.1. Cốt truyện trong “truyện ngắn - kịch hóa”

2.1.1. Chức năng thể hiện trạng thái nhân thể của cốt truyện

2.1.2. “Sự kiện hành động” giàu kịch tính là chất liệu cơ bản của cốt truyện

2.1.3. Nguyên tắc tạo gút tỉ mỉ và mở gút bất ngờ trong xây dựng cốt truyện

2.2. Nhân vật trong “truyện ngắn - kịch hóa”

2.2.1. Nhân vật loại hình trong “truyện ngắn - kịch hóa”

2.2.2. Chi tiết mô tả ngoại hình và hành động là chất liệu cơ bản trong xây dựng nhân vật

2.2.3. Đối lập trong hành động là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng nhân vật

2.3. Trần thuật trong “truyện ngắn - kịch hóa”

2.3.1. Trào phúng - chức năng nghệ thuật cơ bản của trần thuật

2.3.2. Lời văn mô tả ngoại hình và hành động nhân vật là thành phần cơ bản của trần thuật

2.3.3. Nguyên tắc tƣơng phản và tăng cấp trong trần thuật

3. CHƯƠNG 3: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - TRỮ TÌNH HÓA”

3.1. Cốt truyện trong “truyện ngắn - trữ tình hóa”

3.1.1. Chức năng bộc lộ trạng thái tâm tƣởng của cốt truyện

3.1.2. “Sự kiện nội tâm” - chất liệu cơ bản của cốt truyện

3.1.3. Nguyên tắc “chuyển hóa và lặp lại” trong tổ chức cốt truyện

3.2. Nhân vật trong “truyện ngắn - trữ tình hóa”

3.2.1. Nhân vật tƣ tƣởng và nhân vật loại hình

3.2.2. Chi tiết nội tâm - chất liệu chủ yếu trong xây dựng nhân vật

3.2.3. Xung đột nội tâm – cơ sở cho cấu trúc nhân vật

3.3. Trần thuật trong “truyện ngắn - trữ tình hóa”

3.3.1. Chức năng gợi cảm của trần thuật

3.3.2. Lời văn mô tả - thành phần cơ bản của trần thuật

3.3.3. Nguyên tắc “trùng điệp” trong trần thuật

4. CHƯƠNG 4: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - TIỂU THUYẾT HÓA”

4.1. Cốt truyện trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”

4.1.1. Chức năng phân tích và lý giải đời sống của cốt truyện

4.1.2. Cái hàng ngày là chất liệu cơ bản trong xây dựng cốt truyện

4.1.3. Nguyên tắc “mơ hồ hóa” trong xây dựng cốt truyện

4.2. Nhân vật trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”

4.2.1. Nhân vật loại hình và nhân vật tính cách

4.2.2. Sự phong phú, đa dạng của hệ thống chi tiết mô tả nhân vật

4.2.3. Nguyên tắc kết hợp các mặt đối lập trong xây dựng nhân vật

4.3. Trần thuật trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”

4.3.1. Chức năng phân tích, triết luận về đời sống của trần thuật

4.3.2. Sự đa dạng của lời trần thuật, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật

4.3.3. Nguyên tắc “đối thoại” trong trần thuật

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc trưng và vấn đề loại hình hóa truyện ngắn hiện đại

Truyện ngắn hiện đại Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn 1930-1945, thể hiện những đặc trưng nổi bật của thể loại văn học này. Truyện ngắn Việt Nam không chỉ là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà còn mang tính hiện đại, phản ánh sâu sắc tâm tư, tình cảm và những biến động xã hội của thời kỳ này. Đặc trưng của truyện ngắn hiện đại nằm ở khả năng cô đọng nội dung, thể hiện những vấn đề phức tạp trong cuộc sống qua những chi tiết nhỏ. Việc nghiên cứu loại hình hóa truyện ngắn giúp xác định rõ hơn những đặc điểm này, từ cấu trúc đến chức năng của tác phẩm. Các tác phẩm của nhà văn Việt Nam như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, và Nam Cao đã thể hiện rõ nét những đặc trưng này, đồng thời cũng phản ánh sự phát triển của văn học Việt Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

1.1. Đặc trưng của truyện ngắn hiện đại

Truyện ngắn hiện đại Việt Nam mang trong mình những đặc trưng riêng biệt, phản ánh sự chuyển mình của văn học Việt Nam trong thế kỷ 20. Nội dung truyện ngắn thường tập trung vào những khoảnh khắc, tình huống cụ thể, thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật một cách sâu sắc. Các tác phẩm này không chỉ đơn thuần là những câu chuyện ngắn mà còn là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, thể hiện sự nhạy bén trong việc nắm bắt tâm lý con người. Phong trào văn học trong giai đoạn này đã tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam. Đặc biệt, truyền thống văn học kết hợp với những yếu tố hiện đại đã tạo nên một diện mạo mới cho truyện ngắn Việt Nam.

1.2. Vấn đề loại hình hóa truyện ngắn hiện đại

Việc loại hình hóa truyện ngắn hiện đại là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu văn học. Các phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học giúp phân tích và đánh giá các tác phẩm một cách có hệ thống. Cấu trúc chức năng của truyện ngắn được xem xét từ nhiều bình diện khác nhau, từ cốt truyện đến nhân vật, từ ngôn ngữ đến hình thức thể hiện. Các tác phẩm của nhà văn Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945 đã thể hiện rõ sự đa dạng trong loại hình, từ truyện ngắn - kịch hóa đến truyện ngắn - trữ tình hóa. Điều này không chỉ giúp làm rõ đặc trưng của thể loại mà còn phản ánh sự phát triển của văn học hiện đại trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

II. Loại hình truyện ngắn kịch hóa

Loại hình “truyện ngắn - kịch hóa” là một trong những hình thức tiêu biểu của truyện ngắn hiện đại Việt Nam. Cốt truyện trong loại hình này thường được xây dựng với những sự kiện hành động giàu kịch tính, tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc. Nhân vật trong các tác phẩm này thường được khắc họa rõ nét, với những đặc điểm nổi bật, thể hiện sự đối lập trong hành động. Trần thuật trong loại hình này cũng mang tính chất nghệ thuật cao, với những nguyên tắc tương phản và tăng cấp, tạo nên sự phong phú trong cách thể hiện. Các tác phẩm tiêu biểu như của Nguyễn Công Hoan đã thể hiện rõ nét những đặc trưng này, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam.

2.1. Cốt truyện trong truyện ngắn kịch hóa

Cốt truyện trong “truyện ngắn - kịch hóa” thường được xây dựng với những sự kiện hành động phong phú, tạo nên sự kịch tính và hấp dẫn cho người đọc. Nguyên tắc tạo gút tỉ mỉ và mở gút bất ngờ trong xây dựng cốt truyện là một trong những yếu tố quan trọng giúp tác phẩm thu hút sự chú ý. Chức năng thể hiện trạng thái nhân thể của cốt truyện cũng được thể hiện rõ, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về tâm tư, tình cảm của nhân vật. Các tác phẩm của nhà văn Việt Nam trong giai đoạn này đã thể hiện rõ nét những đặc trưng này, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học hiện đại.

2.2. Nhân vật trong truyện ngắn kịch hóa

Nhân vật trong “truyện ngắn - kịch hóa” thường được khắc họa với những đặc điểm nổi bật, thể hiện sự đối lập trong hành động. Chi tiết mô tả ngoại hình và hành động là chất liệu cơ bản trong xây dựng nhân vật, giúp người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận được tính cách của họ. Nguyên tắc đối lập trong hành động cũng là một yếu tố quan trọng, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong cách thể hiện nhân vật. Các tác phẩm tiêu biểu như của Thạch Lam đã thể hiện rõ nét những đặc trưng này, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: ĐẶC TRƯNG VÀ VẤN ĐỀ LOẠI HÌNH HÓA TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI .1 Đặc trƣng của truyện ngắn hiện đại. Truyện ngắn – tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Truyện ngắn – tác phẩm tự sự hiện đại .2 VẤN ĐỀ LOẠI HÌNH HÓA TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI. Phƣơng pháp loại hình trong nghiên cứu văn học.

Loại hình hóa truyện ngắn theo cấu trúc chức năng. Các bình diện và cấp độ nghiên cứu truyện ngắn. 58 CHƯƠNG 2: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - KỊCH HÓA”. Cốt truyện trong “ truyện ngắn - kịch hóa”.

Chức năng thể hiện trạng thái nhân thể của cốt truyện. “Sự kiện hành động” giàu kịch tính là chất liệu cơ bản của cốt truyện. Nguyên tắc tạo gút tỉ mỉ và mở gút bất ngờ trong xây dựng cốt truyện. Nhân vật trong “truyện ngắn - kịch hóa”.

Nhân vật loại hình trong “truyện ngắn - kịch hóa”. Chi tiết mô tả ngoại hình và hành động là chất liệu cơ bản trong xây dựng nhân vật. Đối lập trong hành động là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng nhân vật. Trần thuật trong “truyện ngắn - kịch hóa”.

Trào phúng - chức năng nghệ thuật cơ bản của trần thuật. Lời văn mô tả ngoại hình và hành động nhân vật là thành phần cơ bản của trần thuật. Nguyên tắc tƣơng phản và tăng cấp trong trần thuật. 101 CHƯƠNG 3: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - TRỮ TÌNH HÓA”.

Cốt truyện trong “truyện ngắn - trữ tình hóa”. Chức năng bộc lộ trạng thái tâm tƣởng của cốt truyện. “Sự kiện nội tâm” - chất liệu cơ bản của cốt truyện. Nguyên tắc “chuyển hóa và lặp lại” trong tổ chức cốt truyện.

Nhân vật trong “truyện ngắn - trữ tình hóa”. Nhân vật tƣ tƣởng và nhân vật loại hình. Chi tiết nội tâm - chất liệu chủ yếu trong xây dựng nhân vật. Xung đột nội tâm – cơ sở cho cấu trúc nhân vật.

Trần thuật trong “truyện ngắn - trữ tình hóa”. Chức năng gợi cảm của trần thuật. Lời văn mô tả - thành phần cơ bản của trần thuật. Nguyên tắc “trùng điệp” trong trần thuật.

144 CHƯƠNG 4: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - TIỂU THUYẾT HÓA”. Cốt truyện trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”. Chức năng phân tích và lý giải đời sống của cốt truyện. Cái hàng ngày là chất liệu cơ bản trong xây dựng cốt truyện.

Nguyên tắc “mơ hồ hóa” trong xây dựng cốt truyện. Nhân vật trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”. Nhân vật loại hình và nhân vật tính cách. Sự phong phú, đa dạng của hệ thống chi tiết mô tả nhân vật.

Nguyên tắc kết hợp các mặt đối lập trong xây dựng nhân vật. Trần thuật trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”. Chức năng phân tích, triết luận về đời sống của trần thuật. Sự đa dạng của lời trần thuật, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật.

Nguyên tắc “đối thoại” trong trần thuật. 192 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN. 197 TÀI LIỆU THAM KHẢO. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Bakhtin, nhà lý luận phê bình Nga nổi tiếng, cây đại thụ về lý luận thể loại đã từng khẳng định rằng: “Thể loại phải là những nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học… Lịch sử văn học trƣớc hết là lịch sử hình thành, phát triển và tƣơng tác giữa các thể loại” [5,7 - 8].

Lịch sử phát triển văn học đã chứng minh điều đó. Và trong đời sống văn học hôm nay, việc tìm hiểu đặc trƣng của các thể loại văn học càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Đó sẽ là chìa khóa để khám phá giá trị đích thực của những tác phẩm cụ thể, cùng với sự vận động và phát triển của một nền văn học. Bởi vì nói đến thể loại là nói đến một cách nhìn, một cách tƣ duy, cách cảm nhận đời sống và sang tạo tác phẩm.

Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng phải tồn tại dƣới một hình thức thể lạo nhất định. Thể loại là yếu tố hình thức lớn nhất, chi phối các yếu tố hình thức khác, góp phần tạo nên một diện mạo cụ thể cho tác phẩm văn học. Ở Việt Nam, truyện ngắn là một trong những thể loại có nhiều thành tựu nổi bật. Không ít truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam nhƣ Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu…đã trở nên rất nổi tiếng, có toàn quyền đứng ngang hang với các truyện ngắn tiêu biểu của thế giới.

Và truyện ngắn cũng là thể loại đã đƣợc quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện nhƣ trào lƣu, phong cách, những giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, đặc biệt là các tác phẩm đƣợc nghiên cứu, giảng dạy trong nhà trƣờng…Tuy nhiên, việc nghiên cứu đặc trƣng của truyện ngắn ở góc độ tính hiện đại của thể loại và tính đa dạng về loại hình lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Vì vậy, việc tìm hiểu các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại, trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 là thực sự cần thiết 6 Một mặt, nó giúp xác định đƣợc những đặc trƣng cơ bản của truyện ngắn gắn liền với những dạng thức, những loại hình tiêu biểu của truyện ngắn Việt Nam 1930-1945. Ở đây, việc nghiên cứu đặc trƣng của truyện ngắn không chỉ giới hạn ở vấn đề quy mô mà còn đƣợc xem xét nhƣ một kiểu tƣ duy nghệ thuật và một phƣơng thức cảm nhận, khám phá đới sống. Mặt khác, qua đó phần nào có thể ruát ra đƣợc bản chất, quy luật vận động của văn học mà truyện ngắn là một loại hình tiêu biểu có vai trò không nhỏ trong đời sống văn học và trong gia đình văn học hôm nay.

Đây là đề tài có tính chất lý thuyết- lịch sử, dựa trên thành tựu truyện ngắn 1930- 1945, giai đoạn mang tính bƣớc ngoặt từ cận đại sang hiện đại trong lịch sử phát triển truyện ngắn Việt Nam. Ở một giai đoạn nhƣ thế, các đặc trƣng và loại hình của truyện ngắn thƣờng có điều kiện bộc lộ một cách đầy đủ và rõ nét hơn. Do vậy đề tài sẽ có ý nghĩa nhất định với các họa động sang tạo, nghiên cứu và giảng dạy văn học nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.

Vấn đề mà đề tài luận án đặt ra là khá rộng, có liên quan đến nhiều vấn đề lý luận khách nhau về thể loại, trong đó có truyện ngắn Việt Nam và thế giới. Song với khả năng có hạn và ứng với phạm vi cụ thể mà đề tài có thể giải quyết, chúng tôi chỉ xin điểm lại những tác giả, những công trình, những bài viết tiêu biểu có liên quan mật thiết đến khái niệm, đặc trƣng của truyện ngắn và một số vấn đề về loại hình truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930- 1945, trong đó tập trung chủ yếu vào ba cây bút tiểu biểu nhất là Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam và Nam Cao. Đó là những đại diện xứng đáng cho ba loại hình mà luận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu.1 Đã có rất nhiều tài liệu bàn về khái niệm và đặc trƣng của truyện ngắn, trong đó phải kể đến các giáo trình lý luận văn học, từ điển văn học, 7 các loại sách “kinh nghiệm viết văn”, “sổ tay viết văn”, một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí… Có các giáo trình tiêu biểu nhƣ Lý luận văn học của Gulaiep [55], Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pospelov [180], Lý luận văn học tập II [182], Lý luận văn học (do Hà Minh Đức chủ biên) [48]…; có các Từ điển văn học [172], Từ điển thuật ngữ văn học [173]. , các sách “kinh nghiệm” nhƣ Viết truyện ngắn của Antônôp [2], Đời viết văn của tôi [94], Hỏi chuyện các nhà văn [95] của Nguyễn Công Hoan, Sổ tay người viết truyện ngắn của Vƣơng Trí Nhàn [169], Nhà văn bàn về nghề văn [165], Tìm hiểu truyện ngắn của Trần Thanh ĐỊch [42], Bình luận truyện ngắn của Bùi Việt Thắng [192], Những vấn đè thi pháp của truyện (Nguyễn Thái Hòa) [76], Nghệ thuật viết truyện và ký [171]…;Có các bài viết bàn về truyện ngắn nhƣ: Sự sáng tạo trong truyện ngắn của Vƣơng Trí Nhàn [159], Đôi điều về truyện ngắn, Nghĩ về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu [18], Cái khó của truyện ngắn của Tô Ngọc Hiên [71], Sự trói buộc của truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân [193], Những quan niệm của nước ngoài về truyện và đọc truyện ngắn hiện đại của Đào Duy Hiệp [73]; các ý kiến trên mục Nói ngắn về truyện ngắn của rất nhiều tác giả trên tạp chí Thế giới mới năm 1993 nhân cuộc thi truyện rất ngắn.

Sau đó có các bài viết của Nguyên Ngọc: Truyện rất ngắn – tác phẩm nghệ thuật [11], của Lê Ngọc Trà: Chất thơ của truyện rất ngắn [11] và của Nguyễn Kiên: Lời giới thiệu 45 truyện rất ngắn [12]… Ngoài ra, xung quanh cuộc thi Truyện vừa Tạp chí tác phẩm mới 1996-1997, một số ý kiến của Xuân Cang, Đặng Văn Kí, Ông Văn Tùng, Hà Phạm Phú… cũng đề cập ít nhiều đến truyện ngắn… Những ý kiến về truyện ngắn ở các tài liệu nêu trên rất phong phú, đa dạng, song chung quy lại có 2 loai cơ bản sau đây: 8 2. Nêu ra những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn, từ những vấn đề mang tính khái quát (nhƣ vai trò, khả năng, phạm vi khám phá, cách thức chiếm lĩnh đời sống…) đến những vấn đề cụ thể (nhƣ cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, chi tiết…) Các tác giả của những tài liệu trên, từ nhà lý luận, phê bình đến nhà văn, bạn đọc. đều rất thống nhất khi cho rằng đặc điểm cơ bản nhất của truyện ngắn là… “ngắn”: “truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ…Các độc đáo của nó là ngắn” [173, 252]: “chính việc truyện ngắn phải ngắn khiến nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết” (Antônôp); với truyện ngắn thì “ngắn gọn” là quy luật cấu tạo tác phẩm” (Hoan Botsơ). Gớt nhấn mạnh “đặc tính giai thoại” của truyện ngắn cũng có nghĩa nó phải ngắn gọn.

Còn theo Bandelaire thì “một truyện ngắn quá ngắn (chắc chắn là một khuyết điểm) vẫn còn tốt hơn là một truyện ngắn quá dài” [73, 170]. Tuy nhiên, cái “ngắn” của truyện ngắn trở nên rất tƣơng đối trong cách xác định của các tác giả. Có ngƣời nhƣ Antônôp quan niệm truyện ngắn chỉ nên có độ dài từ 4-8 trang. Nhƣng nhƣ Grojnowski lại cho đọ dài của truyện ngắn là “từ 3 dòng đến 30 trang”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và đặc điểm của thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam trong khoảng thời gian này. Tác giả phân tích các tác phẩm của những nhà văn nổi bật như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, và Tô Hoài, từ đó làm nổi bật những yếu tố nghệ thuật và nội dung phản ánh xã hội đương thời. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về các loại hình truyện ngắn mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn hóa và tâm tư của con người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khám Phá Đặc Điểm Thi Pháp Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Quang Sáng, nơi phân tích sâu về thi pháp trong truyện ngắn của một tác giả cùng thời. Ngoài ra, Luận Văn: Sự Gặp Gỡ Phong Cách Nghệ Thuật Giữa Thạch Lam Và Pauxtovski sẽ giúp bạn hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của Thạch Lam, một trong những nhà văn tiêu biểu trong giai đoạn này. Cuối cùng, Luận văn: Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng là một tài liệu thú vị, khám phá những yếu tố kỳ ảo trong văn học cùng thời, từ đó làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.