Khám Phá Hình Tượng Người Phụ Nữ Mới Trong Tự Lực Văn Đoàn Và Văn Học Hàn Quốc Thời Nhật Thuộc

Tổng hợp kiến thức Hình Tượng Người Phụ Nữ Mới Trong Tự Lực Văn Đoàn Và Văn Học Hàn Quốc Thời Nhật Thuộc, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

240
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp mới của luận án

0.7. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1. Văn học so sánh và sự vận dụng đối với nền văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX

2. CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HOÁ CHO SỰ XUẤT HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ TRONG VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ TRONG VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ TRONG VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC

CÁC ẤN PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ TRONG THỜI GIAN HOÀN THÀNH LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Bối cảnh xã hội văn hóa cho sự xuất hiện hình tượng người phụ nữ mới

Bối cảnh xã hội và văn hóa là yếu tố quan trọng trong việc hình thành hình tượng người phụ nữ mới trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc. Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ thường bị gò bó trong các khuôn khổ của lễ giáo và gia trưởng. Tuy nhiên, sự hiện đại hóa xã hội đã tạo ra những cơ hội mới cho người phụ nữ. Ở Việt Nam, sự xuất hiện của các đô thị mới, hệ thống giáo dục Pháp – Việt, và báo chí đã làm thay đổi cái nhìn về người phụ nữ. Tương tự, ở Hàn Quốc, sự cai trị của Nhật Bản đã dẫn đến những biến đổi trong nhận thức về người phụ nữ. Họ bắt đầu có ý thức về bản thân và khát khao bình đẳng. Những thay đổi này đã tạo ra một hình tượng người phụ nữ mới với những tư tưởng tiến bộ, khát khao tự do và độc lập.

1.1. Quan niệm truyền thống về người phụ nữ

Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ thường bị xem là nạn nhân của nền luân lý cũ. Họ không có quyền tự chủ trong tình yêu và thường bị ép buộc vào hôn nhân. Hình ảnh người phụ nữ trong văn học thời kỳ này thường gắn liền với sự tôn thờ và hy sinh cho gia đình. Tuy nhiên, sự xuất hiện của người phụ nữ mới đã bắt đầu thay đổi quan niệm này. Họ không chỉ là những người giữ gìn giá trị truyền thống mà còn là những người dám đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của mình.

1.2. Sự ảnh hưởng của phương Tây

Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã tạo ra những thay đổi lớn trong nhận thức về người phụ nữ. Ở Việt Nam, phong trào nữ quyền đã bắt đầu hình thành, với những nhân vật như Tuyết trong tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Tương tự, ở Hàn Quốc, người phụ nữ cũng bắt đầu có những khát khao về tự do và bình đẳng. Họ không chỉ muốn thoát khỏi sự áp bức của chế độ phong kiến mà còn muốn khẳng định bản thân trong xã hội hiện đại.

II. Hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn

Trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, hình tượng người phụ nữ mới được thể hiện rõ nét qua các nhân vật như Hiền, Tuyết, và Hảo. Những nhân vật này không chỉ mang trong mình những tư tưởng tiến bộ mà còn thể hiện sự khát khao tự do và độc lập. Họ dám đứng lên chống lại những ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Hình ảnh người phụ nữ mới trong các tác phẩm này không chỉ là biểu tượng cho sự thay đổi trong nhận thức về người phụ nữ mà còn phản ánh những biến động trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó. Các tác phẩm như Đoạn tuyệtNửa chừng xuân đã khắc họa sâu sắc bi kịch của người phụ nữ trong cuộc sống, từ đó tạo ra một hình tượng mạnh mẽ và đầy sức sống.

2.1. Những đặc điểm của hình tượng người phụ nữ mới

Hình tượng người phụ nữ mới trong Tự Lực Văn Đoàn thường mang những đặc điểm như sự độc lập, khát khao tự do và ý thức về bản thân. Họ không chỉ là những người phụ nữ truyền thống mà còn là những người dám mơ ước và đấu tranh cho quyền lợi của mình. Những nhân vật này thường phải đối mặt với những xung đột nội tâm và xã hội, từ đó thể hiện rõ nét những bi kịch mà họ phải gánh chịu.

2.2. Vai trò của người phụ nữ mới trong văn học

Vai trò của người phụ nữ mới trong văn học không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực xã hội mà còn là một phần quan trọng trong việc xây dựng tư tưởng và giá trị văn hóa. Họ trở thành biểu tượng cho sự thay đổi và tiến bộ trong xã hội, đồng thời cũng là những người tiên phong trong cuộc đấu tranh cho quyền lợi của người phụ nữ. Hình tượng này đã góp phần làm phong phú thêm nội dung và ý nghĩa của văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX.

III. Những điểm tương đồng và khác biệt trong hình tượng người phụ nữ mới

Sự so sánh giữa hình tượng người phụ nữ mới trong Tự Lực Văn Đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc cho thấy nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Cả hai nền văn học đều phản ánh những khát khao về tự do và bình đẳng của người phụ nữ. Tuy nhiên, cách thể hiện và bối cảnh xã hội lại có sự khác biệt rõ rệt. Trong khi người phụ nữ Việt Nam thường phải đối mặt với những áp lực từ gia đình và xã hội, thì người phụ nữ Hàn Quốc lại phải chịu đựng sự áp bức từ chế độ thực dân Nhật Bản. Những khác biệt này không chỉ phản ánh thực trạng xã hội mà còn cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận và thể hiện hình tượng người phụ nữ trong văn học.

3.1. Tương đồng trong khát khao tự do

Cả hai nền văn học đều thể hiện rõ khát khao tự do và bình đẳng của người phụ nữ. Họ đều muốn thoát khỏi những ràng buộc của lễ giáo và gia trưởng. Hình tượng người phụ nữ mới trong cả hai nền văn học đều mang trong mình những tư tưởng tiến bộ, thể hiện sự đấu tranh cho quyền lợi của mình.

3.2. Khác biệt trong bối cảnh xã hội

Tuy nhiên, bối cảnh xã hội lại tạo ra những khác biệt trong cách thể hiện hình tượng người phụ nữ mới. Ở Việt Nam, người phụ nữ thường phải đối mặt với những áp lực từ gia đình, trong khi ở Hàn Quốc, họ phải chịu đựng sự áp bức từ chế độ thực dân. Những khác biệt này đã tạo ra những sắc thái riêng trong hình tượng người phụ nữ trong từng nền văn học.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề giải phóng xã hội nhưng đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản ngã, đặc biệt là đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia đình phong kiến” [21/553]. Xung quanh vấn đề người phụ nữ, các nhà nghiên cứu đều đặc biệt quan tâm đến đề tài tình yêu. Phần đông các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao sáng tác của Tự Lực văn đoàn trước hết là ở tính luận đề mạnh mẽ của nó trong việc giải phóng cá nhân và giải phóng phụ nữ: “Đó là lời kết án gay gắt ném vào lễ giáo, đạo đức, tập quán gia đình phong kiến, nêu cao khẩu hiệu giải phóng phụ nữ, giải phóng cá nhân” [21/5]. Ngay như Trương Chính từ năm 1935 đã sớm chỉ ra cái ý đồ ngầm ẩn đằng sau câu chuyện ái tình, hôn nhân ở Đoạn tuyệt: “Chủ ý của ông Nhất Linh viết Đoạn tuyệt là làm cho người đọc yêu mới và ghét cũ.

Nếu đọc xong Đoạn tuyệt mà ta ghét cũ, yêu mới, rồi tìm cách để bỏ cũ và theo mới là tác giả nó đã thành công” [16/14]. Thậm chí, các tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng cho rằng tính luận đề này còn xuyên suốt và chi phối cả nội dung sáng tác: “Nét riêng tiểu thuyết tình yêu của Tự Lực văn đoàn là ở chỗ, đó không phải là những truyện luan an 16 tình thuần túy, không chỉ nói về tình yêu với những quy luật tình cảm riêng của nó, với những niềm vui, hạnh phúc và khổ đau mà nó đem lại cho các cặp tình nhân. Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo bao giờ cũng có ý thức lồng vào trong các câu chuyện tình của mình một ý tưởng cải cách xã hội nào đó” [46/195]. Đề cập đến vấn đề người phụ nữ, không thể không nhắc tới hình tượng các nhân vật nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn.

Thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn là một kiểu nhân vật riêng mà các nhà nghiên cứu gọi bằng cái tên “gái mới”. Nói về kiểu nhân vật nữ mới này, các tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng nhận định: “Đó là những nhân vật được gọi là thanh niên tân thời (nam), là gái mới (nữ), thương mang một cái tên chung là “chàng” và “nàng”.) Những con người này chịu ảnh hưởng của tư tưởng văn hóa, văn minh và lối sống sinh hoạt của phương Tây hiện đại. Họ chống lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, cho tình yêu và hôn nhân tự do, cổ vũ cho phong trào Âu hóa từ tư tưởng văn chương nghệ thuật đến y phục và cách hưởng thụ đời sống vật chất” [46/196]. Có thể nói, các nhân vật, đặc biệt là các nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đã tạo nên một thế giới riêng rất đặc trưng so với các nhân vật thuộc khuynh hướng sáng tác khác: “Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn khác với loại trí thức thuộc tầng lớp trung lưu trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân, Lan Khai, Lê Văn Trương, Thanh Châu, Ngọc Giao, càng khác xa với loại nhân vật trí thức nghèo “áo cơm ghì sát đất” trong các tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao” [46/196].

Nhận định chung về nội dung tư tưởng của tác phẩm Từ năm 1935, gần như ngay tại thời điểm các tác phẩm đầu tiên của Nhất Linh ra đời (Đoạn tuyệt, 1934; Lạnh lùng, 1935), Trương Tửu đã dành những lời khen ngợi nồng nhiệt cho Đoạn tuyệt: “Cuốn Đoạn tuyệt là một vòng hoa tráng lệ đặt trên đầu chủ nghĩa cá nhân. Tác giả đường hoàng công nhận sự tiến bộ và hăng hái tín ngưỡng tương lai. Ông giúp bạn trẻ vững lòng phấn đấu, nghĩa là vui mà sống” (Loa, 8/8/1935). Trong cuốn Dưới mắt tôi (1939), một tập tiểu luận phê bình xuất sắc trên văn đàn trước 1945, Trương Chính tỏ ra đặc biệt trân trọng những đóng góp mới mẻ và luan an 17 tiến bộ của hai cây bút chủ lực là Nhất Linh và Khái Hưng đối với vấn đề phụ nữ, và dành nhiều trang để phân tích, đánh giá những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của hai nhà văn này.

Ông không tiếc lời mà ngợi ca Đoạn tuyệt là một kiệt tác: “Vượt lên trên tất cả những lời bình phẩm nông nổi, không xác đáng, Đoạn tuyệt vẫn là một kiệt tác trong văn chương Việt Nam và tác giả nó vẫn được người ta cảm phục” [16/25]. Trương Chính đánh giá rất cao ý nghĩa xã hội mà tác phẩm đem lại, trong đó đặc biệt là ý hướng cải tạo xã hội Nho giáo kiểu cũ để kiến thiết nên một xã hội mới “theo những nguyên tắc hợp lý và nhân đạo”: “Đoạn tuyệt đánh dấu một cách rõ ràng những thời kỳ thay đổi trong lịch sử tiến hóa của xã hội An Nam. Nó công bố sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu hy vọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bột đương ao ước sống một đời đầy đủ, một đời mãnh liệt, cường tráng” [16/10]. Sau năm 1945, đặc biệt là kể từ sau đổi mới 1986, các nhà nghiên cứu trong khi nhìn nhận lại di sản văn chương của Tự Lực văn đoàn cũng như của Nhất Linh, đều có chung đánh giá hết sức tích cực về tác phẩm Đoạn tuyệt.

Trịnh Hồ Khoa phân tích đóng góp của Nhất Linh ở Đoạn tuyệt: “Chống lễ giáo phong kiến quyết liệt nhất phải kể đến Đoạn tuyệt. Đoạn tuyệt được xem như bản tuyên ngôn của lớp thanh niên chống chế độ đại gia đình phong kiến trong lĩnh vực hôn nhân gia đình” [41/68]. Hay nói như Trần Đăng Suyền, sự phản kháng lại cái cũ và đòi hỏi cái mới chính là tinh thần “đấu tranh mạnh mẽ cho quyền sống của cá nhân” [45/156]. Cũng như một số sáng tác khác của Tự Lực văn đoàn và của Nhất Linh, Lạnh lùng phải hứng chịu không ít phê phán về cả nội dung lẫn nghệ thuật.

Trương Tửu, người đã nồng nhiệt khen ngợi Đoạn tuyệt, sau đó lại lên án Lạnh lùng là “phóng đãng” và khuyến nghị bạn đọc đương thời: “Tất cả những bậc phụ mẫu muốn con gái khỏi bị sự phóng đãng quyến rũ nên cấm tiệt không cho đọc quyển Lạnh lùng” [16/vi]. Yếu tố gây tranh luận của nó cũng xuất phát từ tính luận đề mà Nhất Linh đã nêu lên từ Đoạn tuyệt, như Trương Chính đã nêu rõ: “Lạnh lùng là mũi tên độc thứ hai ông Nhất Linh bắn vào đích ông nhắm: Khổng giáo” [16/17]. Viết Dưới mắt tôi, Trương Chính đã bày tỏ thái độ cảm tình đặc biệt và lên tiếng bênh vực hết mực tác luan an 18 phẩm này trước những lời phê phán gay gắt của Trương Tửu. Trương Chính cho rằng những lời phê bình của Trương Tửu là ngụy biện và độc đoán, và cho rằng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ cũ nặng nề, eo hẹp trong đó Nhung – mà có lẽ cả ta nữa đương giãy giụa, đương ngắc ngoải.

Khổng giáo đối với ta không thiêng liêng nữa và đối với ta, những tục lệ tổ truyền không thể căn cứ vào một lẽ xác đáng nào để tồn tại” [16/21]. Trương Chính khẳng định Nhất Linh quả cảm và tiên phong khi lên tiếng bênh vực quyền lợi người phụ nữ thông qua Lạnh lùng, “để cho mọi người thấy số phận của một người phụ nữ, nạn nhân của lễ giáo phong kiến, chỉ vì nhu nhược mà không dám chống lại. Nhung - chồng chết mà không dám lấy chồng khác vì luân lí, đạo đức, danh dự" [16/26]. Nguyễn Hoành Khung đề cao thái độ của Nhất Linh trong việc đấu tranh đòi quyền được hạnh phúc cho người phụ nữ, nhất là người phụ nữ góa bụa: “Quan điểm tác giả khá tiến bộ, táo bạo: bênh vực quyền được sống hạnh phúc lứa đôi của họ, lên án quan niệm, thành kiến cổ hủ chà đạp quyền sống của họ (.

Sự phê phán văn hóa lễ giáo phong kiến để khẳng định quyền sống cá nhân ở đây mang tinh thần nhân đạo, dân chủ, các nhân vật nhân danh tiến bộ xã hội và lẽ phải mà đấu tranh” [39/1256-1257]. Trịnh Hồ Khoa nhận định về dụng ý sáng tác Lạnh lùng của Nhất Linh: "Dụng ý của Nhất Linh là làm cho người đọc thấy sự vô lý của cái thứ tiết hạnh trái mùa và lên án nó, để cho người phụ nữ góa chồng sớm được tự do quyết định đời sống của mình" [41/68]. Trong Tự Lực văn đoàn, bên cạnh Nhất Linh thì Khái Hưng cũng là cây bút chủ lực, xông xáo trên nhiều đề tài, nhiều thể loại, và tất nhiên số lượng sáng tác cũng hết sức phong phú. Nói riêng ở thể loại tiểu thuyết, Khái Hưng cũng ghi ấn dấu ấn mạnh mẽ với Hồn bướm mơ tiên và sau đó là Nửa chừng xuân.

Trương Chính trong tập tiểu luận Dưới mắt tôi đã ngợi ca Nửa chừng xuân khi ghi nhận công lao tấn công vào chế độ gia đình vô nghĩa và eo hẹp: “Nửa chừng xuân là một cuốn truyện ghi sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy. Tác giả nó biện luận cho quan niệm nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập quán do nền luân lý tổ truyền tạo ra” [16/34]. Mặc dù những hạn chế về nội dung (“Đáng lẽ viết Nửa chừng xuân ông Khái Hưng phải làm cho ta rùng rợn, ghê sợ luân lý cũ luan an 19 và những kiềm tỏa của Nho giáo. Nhưng tác giả không đạt được mục đích của ông: vấn đề nêu ra không được giải quyết một cách rõ ràng”) và hạn chế về nghệ thuật (“Nửa chừng xuân lại kết cấu không chặt chẽ”), nhưng Trương Chính vẫn rất tôn trọng tác giả và tác phẩm, và “nên được ta dành cho một chỗ danh dự trong văn học nước nhà” [16/40].

Nguyễn Hoành Khung nhận định: Nửa chừng xuân “là tác phẩm có tiếng vang lớn, được hoan nghênh rộng rãi hơn cả của Khái Hưng” [41/26]. Sức ảnh hưởng của tác phẩm trước hết đến từ tính luận đề rõ rệt của nó: “Cuốn tiểu thuyết mang tính luận đề rõ rệt: tuyên chiến mạnh mẽ với lễ giáo, phong tục phong kiến chà đạp tình yêu, hạnh phúc cá nhân. Tác phẩm phản ánh mối xung đột mới – cũ đang trở nên gay gắt lan rộng trong đời sống thành thị khi đó” [41/26]. Nhận định về nội dung tư tưởng được thể hiện qua các nhân vật nữ Trong số các nhân vật phụ nữ của Đoạn tuyệt, Loan là nhân vật tiêu biểu hơn cả cho hình ảnh người gái mới, được giới nghiên cứu xem là nhân vật thể hiện rõ nhất tư tưởng của Nhất Linh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Khám Phá Hình Tượng Người Phụ Nữ Mới Trong Tự Lực Văn Đoàn Và Văn Học Hàn Quốc Thời Nhật Thuộc" của tác giả Bang Jeong Yun, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Toàn và PGS.TS Lê Hải Anh, được thực hiện tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội vào năm 2020. Bài viết tập trung vào việc phân tích hình tượng người phụ nữ mới trong bối cảnh văn học Việt Nam và Hàn Quốc trong thời kỳ Nhật thuộc, từ đó làm nổi bật những thay đổi trong vai trò và vị trí của phụ nữ trong xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy những cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của nhân vật nữ, cũng như những ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử đến hình tượng này.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học và các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Đóng Góp Của Văn Xuôi Tự Lực Văn Đoàn Từ Góc Nhìn Thể Loại, nơi phân tích những đóng góp của văn học tự lực trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, và Khám Phá Văn Hóa Ứng Xử Trong Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du, giúp bạn hiểu thêm về văn hóa và ứng xử trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn đa chiều hơn về văn học và vai trò của nhân vật nữ trong các tác phẩm văn học khác nhau.