đặt vấn đề giải phóng xã hội nhưng đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản ngã, đặc biệt là đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia đình phong kiến” [21/553]. Xung quanh vấn đề người phụ nữ, các nhà nghiên cứu đều đặc biệt quan tâm đến đề tài tình yêu. Phần đông các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao sáng tác của Tự Lực văn đoàn trước hết là ở tính luận đề mạnh mẽ của nó trong việc giải phóng cá nhân và giải phóng phụ nữ: “Đó là lời kết án gay gắt ném vào lễ giáo, đạo đức, tập quán gia đình phong kiến, nêu cao khẩu hiệu giải phóng phụ nữ, giải phóng cá nhân” [21/5]. Ngay như Trương Chính từ năm 1935 đã sớm chỉ ra cái ý đồ ngầm ẩn đằng sau câu chuyện ái tình, hôn nhân ở Đoạn tuyệt: “Chủ ý của ông Nhất Linh viết Đoạn tuyệt là làm cho người đọc yêu mới và ghét cũ.
Nếu đọc xong Đoạn tuyệt mà ta ghét cũ, yêu mới, rồi tìm cách để bỏ cũ và theo mới là tác giả nó đã thành công” [16/14]. Thậm chí, các tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng cho rằng tính luận đề này còn xuyên suốt và chi phối cả nội dung sáng tác: “Nét riêng tiểu thuyết tình yêu của Tự Lực văn đoàn là ở chỗ, đó không phải là những truyện luan an 16 tình thuần túy, không chỉ nói về tình yêu với những quy luật tình cảm riêng của nó, với những niềm vui, hạnh phúc và khổ đau mà nó đem lại cho các cặp tình nhân. Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo bao giờ cũng có ý thức lồng vào trong các câu chuyện tình của mình một ý tưởng cải cách xã hội nào đó” [46/195]. Đề cập đến vấn đề người phụ nữ, không thể không nhắc tới hình tượng các nhân vật nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn.
Thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn là một kiểu nhân vật riêng mà các nhà nghiên cứu gọi bằng cái tên “gái mới”. Nói về kiểu nhân vật nữ mới này, các tác giả Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng nhận định: “Đó là những nhân vật được gọi là thanh niên tân thời (nam), là gái mới (nữ), thương mang một cái tên chung là “chàng” và “nàng”.) Những con người này chịu ảnh hưởng của tư tưởng văn hóa, văn minh và lối sống sinh hoạt của phương Tây hiện đại. Họ chống lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, cho tình yêu và hôn nhân tự do, cổ vũ cho phong trào Âu hóa từ tư tưởng văn chương nghệ thuật đến y phục và cách hưởng thụ đời sống vật chất” [46/196]. Có thể nói, các nhân vật, đặc biệt là các nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đã tạo nên một thế giới riêng rất đặc trưng so với các nhân vật thuộc khuynh hướng sáng tác khác: “Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn khác với loại trí thức thuộc tầng lớp trung lưu trong các tác phẩm của Nguyễn Tuân, Lan Khai, Lê Văn Trương, Thanh Châu, Ngọc Giao, càng khác xa với loại nhân vật trí thức nghèo “áo cơm ghì sát đất” trong các tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao” [46/196].
Nhận định chung về nội dung tư tưởng của tác phẩm Từ năm 1935, gần như ngay tại thời điểm các tác phẩm đầu tiên của Nhất Linh ra đời (Đoạn tuyệt, 1934; Lạnh lùng, 1935), Trương Tửu đã dành những lời khen ngợi nồng nhiệt cho Đoạn tuyệt: “Cuốn Đoạn tuyệt là một vòng hoa tráng lệ đặt trên đầu chủ nghĩa cá nhân. Tác giả đường hoàng công nhận sự tiến bộ và hăng hái tín ngưỡng tương lai. Ông giúp bạn trẻ vững lòng phấn đấu, nghĩa là vui mà sống” (Loa, 8/8/1935). Trong cuốn Dưới mắt tôi (1939), một tập tiểu luận phê bình xuất sắc trên văn đàn trước 1945, Trương Chính tỏ ra đặc biệt trân trọng những đóng góp mới mẻ và luan an 17 tiến bộ của hai cây bút chủ lực là Nhất Linh và Khái Hưng đối với vấn đề phụ nữ, và dành nhiều trang để phân tích, đánh giá những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của hai nhà văn này.
Ông không tiếc lời mà ngợi ca Đoạn tuyệt là một kiệt tác: “Vượt lên trên tất cả những lời bình phẩm nông nổi, không xác đáng, Đoạn tuyệt vẫn là một kiệt tác trong văn chương Việt Nam và tác giả nó vẫn được người ta cảm phục” [16/25]. Trương Chính đánh giá rất cao ý nghĩa xã hội mà tác phẩm đem lại, trong đó đặc biệt là ý hướng cải tạo xã hội Nho giáo kiểu cũ để kiến thiết nên một xã hội mới “theo những nguyên tắc hợp lý và nhân đạo”: “Đoạn tuyệt đánh dấu một cách rõ ràng những thời kỳ thay đổi trong lịch sử tiến hóa của xã hội An Nam. Nó công bố sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu hy vọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bột đương ao ước sống một đời đầy đủ, một đời mãnh liệt, cường tráng” [16/10]. Sau năm 1945, đặc biệt là kể từ sau đổi mới 1986, các nhà nghiên cứu trong khi nhìn nhận lại di sản văn chương của Tự Lực văn đoàn cũng như của Nhất Linh, đều có chung đánh giá hết sức tích cực về tác phẩm Đoạn tuyệt.
Trịnh Hồ Khoa phân tích đóng góp của Nhất Linh ở Đoạn tuyệt: “Chống lễ giáo phong kiến quyết liệt nhất phải kể đến Đoạn tuyệt. Đoạn tuyệt được xem như bản tuyên ngôn của lớp thanh niên chống chế độ đại gia đình phong kiến trong lĩnh vực hôn nhân gia đình” [41/68]. Hay nói như Trần Đăng Suyền, sự phản kháng lại cái cũ và đòi hỏi cái mới chính là tinh thần “đấu tranh mạnh mẽ cho quyền sống của cá nhân” [45/156]. Cũng như một số sáng tác khác của Tự Lực văn đoàn và của Nhất Linh, Lạnh lùng phải hứng chịu không ít phê phán về cả nội dung lẫn nghệ thuật.
Trương Tửu, người đã nồng nhiệt khen ngợi Đoạn tuyệt, sau đó lại lên án Lạnh lùng là “phóng đãng” và khuyến nghị bạn đọc đương thời: “Tất cả những bậc phụ mẫu muốn con gái khỏi bị sự phóng đãng quyến rũ nên cấm tiệt không cho đọc quyển Lạnh lùng” [16/vi]. Yếu tố gây tranh luận của nó cũng xuất phát từ tính luận đề mà Nhất Linh đã nêu lên từ Đoạn tuyệt, như Trương Chính đã nêu rõ: “Lạnh lùng là mũi tên độc thứ hai ông Nhất Linh bắn vào đích ông nhắm: Khổng giáo” [16/17]. Viết Dưới mắt tôi, Trương Chính đã bày tỏ thái độ cảm tình đặc biệt và lên tiếng bênh vực hết mực tác luan an 18 phẩm này trước những lời phê phán gay gắt của Trương Tửu. Trương Chính cho rằng những lời phê bình của Trương Tửu là ngụy biện và độc đoán, và cho rằng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ cũ nặng nề, eo hẹp trong đó Nhung – mà có lẽ cả ta nữa đương giãy giụa, đương ngắc ngoải.
Khổng giáo đối với ta không thiêng liêng nữa và đối với ta, những tục lệ tổ truyền không thể căn cứ vào một lẽ xác đáng nào để tồn tại” [16/21]. Trương Chính khẳng định Nhất Linh quả cảm và tiên phong khi lên tiếng bênh vực quyền lợi người phụ nữ thông qua Lạnh lùng, “để cho mọi người thấy số phận của một người phụ nữ, nạn nhân của lễ giáo phong kiến, chỉ vì nhu nhược mà không dám chống lại. Nhung - chồng chết mà không dám lấy chồng khác vì luân lí, đạo đức, danh dự" [16/26]. Nguyễn Hoành Khung đề cao thái độ của Nhất Linh trong việc đấu tranh đòi quyền được hạnh phúc cho người phụ nữ, nhất là người phụ nữ góa bụa: “Quan điểm tác giả khá tiến bộ, táo bạo: bênh vực quyền được sống hạnh phúc lứa đôi của họ, lên án quan niệm, thành kiến cổ hủ chà đạp quyền sống của họ (.
Sự phê phán văn hóa lễ giáo phong kiến để khẳng định quyền sống cá nhân ở đây mang tinh thần nhân đạo, dân chủ, các nhân vật nhân danh tiến bộ xã hội và lẽ phải mà đấu tranh” [39/1256-1257]. Trịnh Hồ Khoa nhận định về dụng ý sáng tác Lạnh lùng của Nhất Linh: "Dụng ý của Nhất Linh là làm cho người đọc thấy sự vô lý của cái thứ tiết hạnh trái mùa và lên án nó, để cho người phụ nữ góa chồng sớm được tự do quyết định đời sống của mình" [41/68]. Trong Tự Lực văn đoàn, bên cạnh Nhất Linh thì Khái Hưng cũng là cây bút chủ lực, xông xáo trên nhiều đề tài, nhiều thể loại, và tất nhiên số lượng sáng tác cũng hết sức phong phú. Nói riêng ở thể loại tiểu thuyết, Khái Hưng cũng ghi ấn dấu ấn mạnh mẽ với Hồn bướm mơ tiên và sau đó là Nửa chừng xuân.
Trương Chính trong tập tiểu luận Dưới mắt tôi đã ngợi ca Nửa chừng xuân khi ghi nhận công lao tấn công vào chế độ gia đình vô nghĩa và eo hẹp: “Nửa chừng xuân là một cuốn truyện ghi sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy. Tác giả nó biện luận cho quan niệm nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập quán do nền luân lý tổ truyền tạo ra” [16/34]. Mặc dù những hạn chế về nội dung (“Đáng lẽ viết Nửa chừng xuân ông Khái Hưng phải làm cho ta rùng rợn, ghê sợ luân lý cũ luan an 19 và những kiềm tỏa của Nho giáo. Nhưng tác giả không đạt được mục đích của ông: vấn đề nêu ra không được giải quyết một cách rõ ràng”) và hạn chế về nghệ thuật (“Nửa chừng xuân lại kết cấu không chặt chẽ”), nhưng Trương Chính vẫn rất tôn trọng tác giả và tác phẩm, và “nên được ta dành cho một chỗ danh dự trong văn học nước nhà” [16/40].
Nguyễn Hoành Khung nhận định: Nửa chừng xuân “là tác phẩm có tiếng vang lớn, được hoan nghênh rộng rãi hơn cả của Khái Hưng” [41/26]. Sức ảnh hưởng của tác phẩm trước hết đến từ tính luận đề rõ rệt của nó: “Cuốn tiểu thuyết mang tính luận đề rõ rệt: tuyên chiến mạnh mẽ với lễ giáo, phong tục phong kiến chà đạp tình yêu, hạnh phúc cá nhân. Tác phẩm phản ánh mối xung đột mới – cũ đang trở nên gay gắt lan rộng trong đời sống thành thị khi đó” [41/26]. Nhận định về nội dung tư tưởng được thể hiện qua các nhân vật nữ Trong số các nhân vật phụ nữ của Đoạn tuyệt, Loan là nhân vật tiêu biểu hơn cả cho hình ảnh người gái mới, được giới nghiên cứu xem là nhân vật thể hiện rõ nhất tư tưởng của Nhất Linh.