Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng thôi sẽ điểm qua một số cơ sở lý thuyết có liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, bao gồm lý thuyết về loại hình học văn học, lý thuyết tự sự và những công trình nghiên cứu đi trước có liên quan, làm cơ sở cho việc đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo. Lý thuyết loại hình học văn học Trước khi có những giới thuyết khái quát về lý thuyết loại hình học văn học, trên cơ sở tham bác ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra cách hiểu về khái niệm loại hình và khái niệm loại hình tác giả như sau: Chữ loại hình (tiếng Anh và tiếng Pháp: type) cũng có nghĩa là kiểu, loại. Loại hình là tập hợp sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc trưng cơ bản nào đó, cùng có quan hệ cộng đồng về mặt giá trị. Khái niệm loại hình tác giả dùng để chỉ tập hợp những tác giả văn học có một số đặc điểm tương đồng về điều kiện hình thành, sự lựa chọn con đường lập nghiệp, sự hấp thu nền học vấn và các học thuyết tư tưởng – chính trị hay đạo đức xã hội; hệ thống đề tài - chủ đề trong sáng tác; hình tượng nghệ thuật, các vấn đề về thể loại và ngôn ngữ trong sáng tác… Dù sự rạch ròi loại hình tác giả ở đây không phải lúc nào cũng rành mạch như bản thân sự tồn tại vốn có của nó, song loại hình học vẫn có nhiệm vụ tối thượng trong việc khu biệt hoá, thành tố hoá họ như những đối tượng nghiên cứu đặc thù để từng bước nhận diện diện mạo, đặc điểm con người, văn chương cũng như vai trò của họ trong lịch sử văn học dân tộc ở một mức độ tương đối có thể chấp nhận được.
Loại hình học (tiếng Anh: typology, tiếng Pháp: typologie) là khoa học nghiên cứu về loại hình nói chung. Đây vừa là một lý thuyết vừa là một phương pháp trong nghiên cứu văn học, vốn xuất phát từ rất sớm, ngay từ trong nền văn hóa cổ đại Hi Lạp - La Mã với cách phân chia văn học của Aristot. Tuy nhiên, nhắc đến lý thuyết loại hình học văn học, chúng ta phải kể đến thành tựu của các nhà nghiên cứu văn học Nga trước đây. Tên tuổi của một số nhà nghiên cứu tiên phong có thể nhắc đến như V.
Riptin… Ở Việt Nam, tư duy loại hình, 7 luan an phương pháp loại hình ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Trước hết phải kể tới một số công trình dịch thuật về vấn đề tư duy loại hình và phương pháp loại hình như: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học [95] Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học [135]; Hình thái học truyện cổ tích [290]; Cấu trúc văn bản nghệ thuật [93], Thi pháp văn học Nga cổ [118]… Đây là những công trình khá tiêu biểu của một số học giả, nhà nghiên cứu uy tín trên thế giới tiếp cận văn học theo hướng loại hình và những công trình này khi được công bố bản tiếng Việt đã trở thành những sách công cụ hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực chuyên ngành. Nhiều vấn đề đặt ra trong đó đã được vận dụng linh hoạt và hữu ích khi soi chiếu vào thực tiễn của nền văn học dân tộc. Hướng đến việc phân chia, phân loại các sự vật, hiện tượng, các vấn đề của văn học (trong đó có vấn đề về tác giả) để từ đó xác định vị trí, ý nghĩa, vai trò của nó trong một hệ thống, trong cấu trúc tổng thể cũng như nhận dạng được diện mạo và đặc điểm của cả một hệ thống chính là điểm nổi bật của lý thuyết loại hình học văn học.
Các nhà nghiên cứu, bằng nhãn quan tư duy này đã tìm cách “rạch ròi hóa” các vấn đề, các hiện tượng của văn học dựa trên những tiêu chí, những cơ sở tương đối có thể chấp nhận. Từ đây, các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến một bộ phận không nhỏ tác giả, tác phẩm trong đời sống văn chương dân tộc thời trung đại, cũng như thời cận hiện đại sau này. Về vấn đề tác giả, loại hình học đã giúp các nhà nghiên cứu đề xuất những tiêu chí xếp loại, xác định được đặc điểm của đội ngũ tác giả cũng như thời điểm hình thành và đóng góp của họ cho lịch sử văn học dân tộc. Kể từ Trương Tửu với trường hợp tác giả cụ thể là Nguyễn Công Trứ, việc ứng dụng lí thuyết loại hình học liên tục được kế thừa và tỏ ra ưu việt trong nghiên cứu đội ngũ tác giả trong văn học trung cận đại ở nước ta.
Điều đó được thể hiện bằng hàng loạt công trình mang tính khái quát của Trần Đình Hượu như: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 [90], Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [88]… Có thể nói, bằng phương pháp loại hình, Trần Đình Hượu đã đề xuất một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng cho văn học trung cận đại. Ông đã chỉ ra tính quy luật của đội ngũ tác giả nhà nho và mối quan hệ giữa loại hình tác giả nhà nho với văn chương Nho giáo thời trung cận đại. Việc phân loại mẫu hình tác giả nhà nho đã tạo tiền đề cơ sở để tiến hành nghiên cứu chuyên sâu và khu biệt được những nội dung tư tưởng cũng như đặc sắc nghệ thuật 8 luan an của các mẫu hình nhà nho thời trung đại. Đó là văn học nhà nho (qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Đào Tấn, Nguyễn Thông…); văn học nhà chí sĩ - kiểu nhà nho tiếp thu tư tưởng tư sản, tiên phong đi làm cách mạng (qua Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, đặc biệt qua Phan Bội Châu…); văn học nhà nho tài tử trong xã hội tư sản (qua Tản Đà); văn học giai đoạn giao thời (qua sáng tác của nhiều kiểu nhà nho trong bối cảnh chuyển hướng từ văn học Hán - Nôm sang văn học bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX); văn học hiện đại qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử (qua trường hợp Tự lực văn đoàn)… Tiếp nối Trần Đình Hượu là hàng loạt công trình nghiên cứu lấy lí thuyết loại hình làm cơ sở để triển khai và tạo được dấu ấn trong trường phái lí thuyết loại hình ở Việt Nam.
Tiêu biểu nhất là công trình Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam của Trần Ngọc Vương [293]. Trong công trình này, ông đã phân loại mẫu hình nhà nho trong văn học Việt Nam thời trung đại thành ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Công trình đã mở ra tính ứng dụng trong việc nghiên cứu loại hình tác giả cũng như những đặc trưng văn học của từng loại hình tác giả. Công trình đã tạo bước ngoặt và cổ vũ cho việc ứng dụng lí thuyết loại hình vào nghiên cứu văn học Việt Nam.
Tiếp đó là hàng loạt những công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu vào từng loại hình tác giả như Nguyễn Hữu Sơn với nghiên cứu về đội ngũ tác giả Thiền sư trong Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh [189], Lê Văn Tấn nghiên cứu về loại hình nhà nho ẩn dật và đóng góp của họ đối với sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam [216]. Về loại hình học tác phẩm, đa số các công trình nghiên cứu về đội ngũ tác giả cũng dành khá nhiều công phu trong việc nghiên cứu sáng tác của từng nhóm tác giả để tìm ra những nét đặc trưng và có tính khu biệt trong sáng tác của họ. Ngoài ra, lí thuyết loại hình còn được ứng dụng để nghiên cứu từng loại hình hay thể loại của văn học Việt Nam như Đặc điểm văn học trung đại Việt Nam: Những vấn đề văn xuôi tự sự của Nguyễn Đăng Na [39], Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn [235], Ngâm khúc: quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng thể loại của Ngô Văn Đức [55], Văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại của Trần Thị Hoa Lê [112], Loại hình văn học trung đại Việt Nam của Biện Minh Điền [45]… Những công trình trên đây giúp chúng tôi hiểu một cách thấu đáo hơn về lý thuyết cũng như phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là cách thức 9 luan an lựa chọn đối tượng và vận dụng lý thuyết này trong những trường hợp cụ thể.Trên thực tế, việc nghiên cứu lịch sử văn học không thể không chú ý đến vấn đề hệ thống các loại hình, loại thể của văn học. Khi tư duy nghiên cứu hướng tới yêu cầu tổng hợp, phân loại các hiện tượng văn học dựa trên những hệ tiêu chí khả dĩ có thể khái quát và thâu tóm thành một “cộng đồng thẩm mỹ” nhất định, nói lên tư cách tồn tại của chúng, khi ấy loại hình học văn học ra đời.
Vận dụng lý thuyết loại hình học vào đề tài nghiên cứu được chúng tôi cụ thể hóa qua những vấn đề sau: - Về vấn đề tác giả: Loại hình học cho phép chúng tôi bước đầu nhận diện đội ngũ tác giả Nho học - Tân học. Đây là những tác giả có những đặc điểm chung ở sự tiếp nhận cả hai mô hình giáo dục là mô hình giáo dục theo kiểu Nho học và mô hình giáo dục Tây học. Họ là những trí thức sinh ra trong bối cảnh giao thoa, chuyển giao giữa hai thế kỉ, phải chứng kiến sự giao tranh giữa văn hóa truyền thống với văn hóa phương Tây hiện đại; - Về vấn đề tác phẩm: Vận dụng lý thuyết loại hình để nghiên cứu thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX qua sáng tác của các tác giả này. Đây vốn là một thể loại có quy mô phản ánh hiện thực tương đối rộng lớn trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật: + Ở phương diện thể hiện nội dung tư tưởng: lý thuyết loại hình học giúp chúng tôi chỉ ra được sự tương đồng trong việc nhà văn thể hiện mối quan tâm đến hệ thống các đề tài, chủ đề cũng như hệ thống hình tượng nghệ thuật trung tâm trong sáng tác của tác giả Nho học - Tân học.