mở đầu có tính pháp lý nhà nước sự quy định thay đổi chữ viết là chữ Nôm sang chữ quốc ngữ - Latin, mà một trong những biểu hiện rõ rệt và mạnh mẽ của nó là trên văn bản viết thể loại văn học và báo chí. Các kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo, học tập, hữu ích cho sinh viên, Học viên sau Đại học và cho những ai quan tâm đến vấn đề cấu tạo từ Tiếng Việt này. Các kết quả nghiên cứu còn giúp hỗ trợ cho việc biên soạn từ điển nói chung, từ điển tiếng Việt Nam Bộ nói riêng và các loại từ điển hữu quan khác. Bố cục của luận văn Luận văn có độ dài chính văn là 98 trang, ngoài phần Dẫn nhập (10 trang) và kết luận (2 trang), luận văn có phần nội dung với 3 chương chính như sau: Chương một có tiêu đề là “Những vấn đề lý thuyết cơ sở”.
Chương này đi vào trình bày một số khái niệm cơ bản có liên quan đến nội dung khảo cứu của đề 14 tài, và đưa ra quan điểm của tác giả luận văn về vấn đề này, ví dụ như khái niệm TỪ, các tiêu chí xác định TỪ; phân loại TỪ (từ góc độ cấu tạo); các phương thức cấu tạo từ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng. Trong chương này, mặc dù nhiệm vụ chính của luận văn không phải là đưa ra ý kiến của riêng mình về các vấn đề hữu quan trên đây, song, trong một số chừng mực nào đó tác giả luận văn cũng xin trình bày cách nhận thức của mình về đối tượng của ngôn ngữ học nói chung, Việt ngữ học nói riêng liên quan đến đề tài luận văn. Chương Hai có tiêu đề là: “Đặc điểm, cấu tạo của từ tiếng việt trong một số tác phẩm Nam Bộ cuối TK XIX: Thống kê và miêu tả”. Chương này đi vào khảo cứu đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt trong một số văn bản văn học Nam Bộ như đã nêu ở phần Dẫn Nhập từ cách tiếp cận định lượng để từ đó tiến hành miêu tả cụ thể về phương thức cấu tạo từ.
Chương Ba là “Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt trong một số tác phẩm Nam Bộ cuối TK XIX: Phân tích và nhận xét”. Chương này có nhiệm vụ đi sâu vào phân tích các loại từ như từ đơn, từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp, cũng như các tiểu loại bên trong của chúng, để từ đó đưa ra những nhận xét về các vấn đề hữu quan như vấn đề số lượng, tính chất của các yếu tố cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ, trên các văn bản văn học Nam Bộ cuối TK XIX. Cuối luận văn là thư mục tài liệu tham khảo với 98 đầu sách báo và một số trang Web. 15 CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ Ở chương này, tác giả luận văn sẽ đi vào trình bày và phân tích một số khái niệm – thuật ngữ có tính cơ sở, làm chỗ dựa về mặt lí luận cho việc khảo cứu đề tài.
Trong quá trình này, chúng tôi nghĩ rằng sẽ tránh không đi vào những tranh luận về khái niệm – định nghĩa, mà chủ yếu là thống nhất và vận dụng các quan niệm đã có trong lịch sử Việt ngữ học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung. Đồng thời, như đã nói ở phần Dẫn nhập, trong một số trường hợp, ở một chừng mực nhất định, chúng tôi cũng có đôi dòng trao đổi và đưa ra ý kiến của mình. Khái niệm Từ Như chúng ta đã biết , trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị trung tâm, đơn vị có vai trò quan trọng trong hoạt động hành chức và tổ chức kiến tạo nên các đơn vị mối, các đơn vị bậc cao hơn. Chính vì vậy, từ là một trong những đối tượng thu hút rất lớn sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học.
Mặt khác – đơn vị này là đơn vị đa diện, rất khác nhau ở trong một ngôn ngữ và tất nhiên là trong các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới…Sự khác nhau này trước hết là về nội dung – về nghĩa (rất chủ yếu) và sau đó là về hình thức (cũng quan trọng). Ví dụ, trong một ngôn ngữ thuộc loại hình lập khuôn, một đơn vị TỪ - LẬP KHUÔN – có thể có đến vài chục âm tố (vỏ vật chất), và bao gồm nhiều hình vị bên trong (về nghĩa – nội dung), ví dụ như trong tiếng XuaKhili, thì Watasipokuja (nếu họ sẽ không đến),trong tiếng Chucôt: nưgưtgưjưtlkưt kinetgatantorpoigưma ( họ đi nhanh đến hồ với cái lao mới tốt) là các ví dụ về trường hợp này (theo NXB ĐH&THCN). Trái lại, ở nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Việt, có những từ mà 16 độ dài vật chất của nó chỉ có 1 âm tố, và về nghĩa – nội dung thì chỉ có một hình vị (ví dụ như a,( một, cái : a book, a pen),(tiếng Anh), u [i]:và (tiếng Nga) Chính vì tình hình trên mà trong lịch sử ngôn ngữ học đã có hơn 200 định nghĩa về từ. Tuy nhiên với mục đích và nhiệm vụ của luận văn này như đã trình bày trên đây thì ở đây chúng tôi chấp nhận định nghĩa về Từ của các tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trọn lời nói để tạo câu” (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, , 2001, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB GD, HN, trang 137).
Đồng thời, trong quá trình phân xuất từ (xác định ranh giới giữa từ này với từ khác trong quá trình thống kê, phân tích…), chúng tôi dựa vào các tiêu chí phân xuất từ của tác giả V.,1998, Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, NXB GD,, trang 94 – 102). Đó là: “1/ Từ có một độ độc lập nhất định. Điều đó có nghĩa là từ có thể di chuyển được trong phạm vi câu, trong phạm vi văn bản. Còn bộ phận của từ (hình vị) thì khác, nó không thể di chuyển tự do trong câu, trong văn bản, trật tự giữa các bộ phận trong từ (nhìn chung – tác giả mở ngoặc đơn) cũng không thể thay đổi.
2/ Từ có tính toàn vẹn bên trong, tức là các bộ phận của từ không thể tách rời nhau để chêm thêm các đơn vị thực (hoặc các từ hư) khác. 3/ Từ có quan hệ cú pháp độc lập, tức bản thân nó có quan hệ cú pháp với một (hoặc nhiều) yếu tố ngang nó – như nó hoặc trên nó (ngữ). 17 4/ Ngoài ra, tiêu chí thứ tư, khả năng phân xuất phần dư, có lẽ thích hợp hơn với các ngôn ngữ đa tiết - biến hình. Ví dụ như trong trường hợp: Anglo – Russkij(Anh – Nga) thì Russkij được phân xuất là từ vì thỏa mãn các tiêu chí, còn Anglo – tuy không có khả năng độc lập làm thành phần câu như từ, nhưng theo nguyên tắc phân xuất phần dư, nó được thừa nhận là có trạng thái của từ” (Kasevich, Sách đã dẫn, trang 101) Như vậy, 4 tiêu chí trên được chúng tôi áp dụng khi phân xuất từ, phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ thống kê, phân loại từ xét từ góc độ cấu tạo.
Phân loại từ trong tiếng Việt (xét từ góc độ cấu tạo). Khi tiến hành xác định các từ trong văn bản xét từ góc độ cấu tạo, chúng tôi nhất trí cách quan niệm và cách dùng thuật ngữ của nhiều nhà nghiên cứu Việt ngữ, trên bề mặt có thể có sự khác nhau chút ít về chữ, nhưng nhìn chung, là có sự đồng nhất (cơ bản – phần lớn) về nội dung. Đó là cách phân chia và gọi tên của các tác giả như Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên,…Theo đó, chúng ta có 4 loại từ (xét từ góc độ cấu tạo) như sau: 1/ Từ đơn: Từ đơn là những từ được cấu tạo từ một hình vị (và có võ ngữ âm là một âm tiết). Định nghĩa này bao hàm 2 tiêu chí để xác định từ đơn – có nghĩa (nhỏ nhất), một hình vị - có vỏ vật chất (hình thức) một âm tiết.
Khi quan niệm như vậy, chúng tôi cho rằng các từ vay mượn đa tiết không được coi là từ đơn và nó chỉ thỏa mãn tiêu chí thứ nhất (tính có nghĩa nhỏ nhất), nhưng không thỏa mãn tiêu chí thứ 2( tính có vỏ ngữ âm nhỏ nhất – 1 âm tiết), cũng như các trường hợp khác trong tiếng Việt như bồ hóng, mà cả… 2/ Từ ghép: Từ ghép là những từ được cấu tạo từ hai hình vị trở lên theo quan hệ ghép nghĩa. Bên trong từ ghép, có thể chia thành 2 loại lớn: 18 a. Ghép đẳng lập. Ghép chính phụ (Hai hoặc nhiều các thành tố được ghép lại với nhau theo quan hệ chính phụ.
Từ ghép đẳng lập lại được chia nhỏ thành 4 tiểu loại, đó là đẳng lập hợp nghĩa (cha mẹ, ông bà, tổ quốc, giang sơn) , đẳng lập đơn nghĩa (như: gà qué, chợ búa, tre pheo, áo xống), đẳng lập đẳng nghĩa (cấp bậc, vui sướng, to lớn, đẹp xinh.) và đẳng lập trái nghĩa (lớn bé, trước sau, may rủi, ngắn dài…) Còn trong từ ghép đẳng lập chính phụ lại được chia nhỏ thành 2 tiểu loại: chính phụ di biệt (hoa hồng, nhà ga, sân bay, cầu tre, áo lót,…) và chính phụ sắc thái hóa (xanh lè, đen sì, tím ngắt, cao nhòng, lùn tịt,…) 3/ Từ láy: từ láy là những từ có chứa từ 2 hình vị trở lên, trong đó 1 hình vị là hình vị gốc, còn 1 (các) hình vị khác là hình vị LÁY. (Hai/ nhiều hình vị có quan hệ với nhau về ngữ âm) Xét về đặc điểm láy âm, ta có 2 loại từ láy: a. Láy hoàn toàn : các từ láy này có các âm tiết – hình vị giống nhau hoàn toàn về ngữ âm) b. Láy bộ phận : các từ láy này có các bộ phận (hoặc âm đầu, hoặc phần vần) có sự giống nhau về âm.
Hai loại từ láy này lại chia nhỏ ra thành các kiểu loại nhỏ nữa; a. Láy hoàn toàn chân chính: Ba ba, cào cào, le le, đùng đùng, đoàng đoàng, ầm ầm, lù lù, lăm lăm a. Láy hoàn toàn không chân chính ( Theo ý kiến của cán bộ hướng dẫn luận văn này thì trong từ láy hoàn toàn có thể kể đến các từ láy có vỏ ngữ âm không hoàn toàn trùng khít nhau giữa các âm tiết, nhưng tác giả quan niệm 19 đó là kết quả của quá trình dị hóa ngữ âm trong ngôn ngữ - một quy luật có tính phổ biến trên thế giới.