LỜI NÓI ĐẦU Ngữ pháp chức năng với một hệ thống phƣơng pháp tiếp cận các hiện tƣợng ngôn ngữ phù hợp đang đƣợc các nhà ngôn ngữ Việt Nam quan tâm. Hệ phƣơng pháp này đã và đang tạo ra một cách nhìn nhận mới trong việc nghiên cứu, mô tả chính xác hơn bản chất tiếng Việt. Đặc biệt với hệ thống lý thuyết khoa học, chặt chẽ, ngữ pháp chức năng đã giúp các nhà Việt ngữ học miêu tả phân tích câu thành cấu trúc đề thuyết. Đề tài luận văn này của chúng tôi trình bày kết quả kháo sát, miêu tả cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại theo quan điểm ngữ pháp chức năng.
Do vấn đề còn mới mẻ và tài liệu nghiên cứu ít ỏi nên luận văn chỉ thực hiện ở mức độ nhất định. Chúng tôi xin đƣợc bày tỏ nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo sƣ Cao Xuân Hạo - ngƣời thầy đã đành nhiều thời gian và công sức để hƣớng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn. Chúng tôi cũng xin cám ơn sự động viên giúp đỡ của Quí Thầy Cô Khoa Ngữ văn Trƣờng Đại học sƣ phạm, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và của các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài.HCM, ngày 15 tháng 12 năm 1997 1 NHỮNG KÝ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN VẪN Đ : Đề CĐ : Chủ đề KĐ : Khung đề T : Thuyết C : Câu : Yếu tố tĩnh lƣợc Tr : Trạng ngữ 2 DẪN NHẬP I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1.
Ngữ pháp chức năng với sự phát triển đầy hứa hẹn của nó trên thế giới ngày nay đã đem lại cho ngữ pháp tiếng Việt nhiều phát hiện lý thú và bổ ích, góp phần giúp cho việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt khắc phục tình trạng khó khăn hiện nay do việc cố gò theo khuôn mẫu ngữ pháp của một ngôn ngữ khác. "Trong nhiều thế kỷ, các sách ngôn ngữ đại cƣơng đều khái quát hóa những đặc trƣng hình thức của ngữ pháp các ngôn ngữ Châu Âu, coi đó là những thuộc tính chung của mọi ngôn ngữ và trong quá trình miêu tả các ngôn ngữ thuộc những loại hình ngôn ngữ khác nhau, ngƣời ta cố gò cấu trúc của ngôn ngữ này vào khuôn mẫu của câu trúc ngôn ngữ Châu Âu. Đặc biệt kết cấu chủ ngữ, vị ngữ mà nội dung thực chất là một mối quan hệ hình thái học không biểu hiện một quan hệ nhất định nào về nghĩa và về logic, giữa một danh từ mang danh cách và một động từ "đã chia" phù ứng với danh từ về ngôi và số, đƣợc xem là tiêu chí để phân loại câu trong mọi ngôn ngữ"1. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không cho thấy một cái gì có thể gọi là chủ ngữ cả, vì tiếng Việt không có cách và không có sự phù ứng về hình thái học.
Trong tiếng Việt câu chia làm hai phần Đề và Thuyết tƣơng ứng với hai phần của một mệnh đề trong logic học. Hơn nữa, nếu phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu chủ - vị thì chỉ phân tích đƣợc những kiểu câu giống nhƣ câu ngôn ngữ Châu Âu còn những kiểu câu không giống thì phải đảo lại cho giống hoặc xem là câu đặc biệt, còn lại khoảng 80% những câu thƣờng dùng trong tiếng Việt hội thoại cũng nhƣ trong văn học cổ điển và dân gian thì hầu nhƣ không đƣợc đề cập đến. Ngay cả trong sách giáo khoa dạy cho học sinh phổ thông, tình hình cũng không khác bao nhiêu. Kết quả của tình hình này là học sinh tốt nghiệp phổ thông không viết đƣợc tiếng Việt một cách chững chạc vì những tri thức đƣợc trình bày trong sách giáo khoa rất xa với thực tế tiếng Việt và không hoàn toàn phù hợp với cảm thức của ngƣời Việt Trong khi đó, mô hình phân tích câu thành hai phần đề - thuyết cho phép phân tích một cách thỏa đáng và đơn giản hầu hết các kiểu câu một bậc hay nhiều bậc, có những câu có đến bốn năm bậc đề - thuyết mà nếu phân tích theo chủ ngữ, vị ngữ thì không sao phân tích một cách ổn thỏa đƣợc.
1 Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tƣơm - Nguyễn Văn Bằng - Câu trong tiếng Việt - 1992 - Trang 4. Việc phân tích câu thành cấu trúc đề - thuyết là một việc làm cần thiết trong nhà trƣờng hiện nay. Vì ngữ pháp truyền thống không phù hợp với yêu cầu dạy tiếng Việt thực hành trong nhà trƣờng. Việc phân tích câu thành câu trúc để thuyết không chỉ giúp học sinh nắm kiến thức khoa học dễ tiếp thu và ứng dụng cho tiếng Việt mà còn giúp các em sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp một cách chủ động và thích đáng.
Chúng tôi vận dụng quan điểm và phƣơng pháp của ngữ pháp chức năng để miêu tả, khảo sát các kiểu câu theo mô hình Đ - T, chủ yếu là trong thơ lục bát cổ điển, hiện đại và dân gian. Chúng tôi quan niệm đây là một dịp thử nghiệm nhằm thử thách thêm hiệu lực của thủ pháp phân tích câu theo mô hình Đề - Thuyết trong tiếng Việt nói chung và thơ lục bát nói riêng, một thể thơ có thể coi là phổ thông nhất của văn học Việt Nam. Trên cơ sở đó chúng tôi muôn đƣa ra một vài nhận xét về sự đồng nhất và khác biệt giữa thơ lục bát cổ điển, dân gian và hiện đại. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: Ngữ pháp chức năng với tên tuổi của các nhà chức năng luận nhƣ L.
đang tạo ra những hƣớng đi mới đầy lạc quan cho sự nghiệp nghiên cứu tiếng Việt. Quan điểm của ngữ pháp chức năng đã có đủ cơ sở để các nhà Việt ngữ học đi sâu vào việc nghiên cứu. tìm hiểu những vấn đề chƣa dƣợc quan tâm thỏa đáng. Đó là vấn đề cấu trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt.
Cấu trúc thông báo và hai thành phần Đề - Thuyết của câu: Kể từ Aristote trở đi (thế kỷ thứ V trƣớc Công nguyên) ngôn ngữ học phƣơng Tây thƣờng phân tích câu nhƣ gồm có hai thành phần "logic": Chủ ngữ và Vị ngữ. Trong một thời gian kéo dài hơn hai mƣơi thế kỷ, các nhà ngôn ngữ học và các nhà lôgic học yên trí rằng sự phân chia này có hiệu lực trên cả hai bình diện tƣ duy và ngôn ngữ - và cách suy nghĩ đó khá hợp lý và tự nhiên, vì việc ngôn ngữ sinh ra là để diễn đạt tƣ duy là một chân lý mà xƣa nay chƣa hề có ai hồ nghi. Nhƣng đến một lúc nào đó (cụ thể là vào cuối thế kỷ XIX), các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nhận thấy rằng Chủ ngữ trong câu không phải bao giờ cũng trùng với Chủ ngữ trong mệnh đề. và từ đấy họ thấy cần phân biệt Chủ ngữ ngữ pháp với Chủ ngữ lôgic.
Năm 1939, một nhà ngôn ngữ học của Trƣờng Prague là V.Mathcsius nhận thấy rằng bên cạnh cách phân đoạn câu thành Chủ ngữ (ngữ pháp) và Vị ngữ, một cách phân đoạn thuần túy hình thức. còn có một cách phân đoạn thực tại hơn nhiều: cách phân đoạn thành Đề và Thuyết (Thema và Rhema) mà nội dung là "cấu trúc thông 4 báo" của câu, phân biệt Cái cho sẵn với Cái mới. Năm 1958, một nhà Hán học Mỹ là C.RHockett, tuy không dẫn Mathesius, đã gần nhƣ lặp lại lý thuyết Phân đoạn thực tại khi ông phân chia câu ra thành hai phẫn Topic và Comment. Từ đấy trở đi, hai khái niệm Đề và thuyết ngày càng trở thành quan thuộc đối với giới ngôn ngữ học, và đến những năm 1970, nhất là sau khi cuốn Subject and Topic do C.Li chủ biên ra đời, ngƣời ta đã nhận ra rằng có những ngôn ngữ khó lòng có thể phân tích theo mô hình Chủ - Vị: câu của các ngôn ngữ này cần đƣợc phân tích theo mô hình khác: mô hình Đề - Thuyết, mà đa số các tác giả đồng nhất với cấu trúc thông báo.
Cấu trúc đề - thuyết trong Việt ngữ học: 2. Trƣớc đây chƣa có công trình nào tập trung nghiên cứu cấu trúc đề -thuyết của câu một cách có hệ thống, cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt đƣợc các nhà Việt ngữ học mô tả theo mô hình "chủ vị" sở dĩ họ làm đƣợc nhƣ vậy là nhờ ở chỗ khái niệm chủ ngữ không bao giờ đƣợc các tác giả Việt ngữ học định nghĩa một cách hiển ngôn. Và đủ chính xác. Chủ ngữ đƣợc họ đồng nhất với tham tố thứ nhất trong lõi vị ngữ hoặc với một số vai nghĩa đƣợc chọn một cách tiên nghiệm.
Tuy vậy từ khá lâu đã có những tác giả cảm thấy có một cái gì không thật ổn trong cách phân tích câu tiếng Việt theo mô hình Chủ - Vị. Theo Giáo sƣ Cao Xuân Hạo thì Nguyễn Kim Thản là ngƣời đầu tiên thấy đƣợc rằng danh ngữ ở đầu những câu nhƣ: (1) Sách để trên bàn. (2) Ghế này ngồi đƣợc ba ngƣời1. cũng cần đƣợc xử lý về ngữ pháp nhƣ các danh ngữ chỉ vật trải qua quá trình (sách roi) hay mang tính chất (sách hay lắm).
Các danh ngữ ở (1) và (2) cũng đƣợc coi là chủ ngữ2. Hơn nữa, trong "cơ sở ngữ pháp tiếng Việt" xuất bản năm 1981 Nguyễn Kim Thản lại viết: "Chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ", "đúng ra nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo"3. Ông đồng nhất sự phân biệt giữa hai phần này với sự phân biệt giữa topic (phần nêu) và comment (phần báo). Nhƣng vì ông không định nghĩa hai khái niệm này một cách hiểu ngôn nên ông đã tỏ ra thiếu nhất quán khi phân tích các danh ngữ (giới ngữ) ở đầu những câu nhƣ: 1 Nguyễn Kim Thản - Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt - 1983 - Trang 30, 31.
2 Cao Xuân Hạo - Sơ thảo ngữ pháp chức năng - Quyển 1 - Viện KHXH - 1991 - Trang 145. 3 Nguyễn Kim Thản - Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt - 1983 - Trang 30, 31. 5 (3) Trong nhà nóng hơn. (4) Ở nhà có gửi thƣ.
Nguyễn Kim Thản cho các danh ngữ ở (3) và (4) là chủ ngữ còn danh ngữ ở (5) lại là trạng ngữ. Ngoài Nguyễn Kim Thản còn có Trƣơng Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trong "Khảo luận về ngữ pháp Việt nam" Xuất bản 1963 cũng viết về các danh ngữ ở đầu câu. (6) Thƣ gửi cho Ất rồi. (7) Quyển sách này mua ở hiệu mỗ.