Chương 1: Những vấn đề chung Chương này bước đầu sẽ cung cấp một số kiến thức về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục”. Nội dung tiếp theo là làm rõ một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến “giới” và quan niệm “văn hoá ứng xử giới” giữa nam và nữ trong văn học nói chung cũng như trong văn học trung đại nói riêng. Chương 2: Hình tượng nhân vật trong truyền kì mạn lục dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới Trong chương này chúng tôi sẽ đi khảo sát các hình tượng nhân vật nam và nữ trong Truyền kì mạn lục dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới, tương ứng với các đặc điểm trong tư tưởng, giao tiếp. Thông qua đó, thể hiện được vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị của nam giới và nữ giới trong xã hội phong kiến.
Đồng thời, cũng sẽ tìm hiểu được nguyên nhân chi phối các biểu hiện đó để hoàn chỉnh cái nhìn toàn diện hơn về chức năng phận vị của con người theo ứng xử giới trong văn học trung đại. Chương 3: Đối sánh hình tượng nhân vật trong truyền kì mạn lục với hình tượng nhân vật trong một số khúc ngâm, truyện thơ Nôm tiêu biểu Chương này so sánh hình tượng nhân vật nam và nữ trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ với nhân vật nam và nữ trong một số truyện thơ Nôm và khúc ngâm tiêu biểu để thấy được các mối liên hệ đa dạng cũng như nét chung, nét riêng độc đáo, sự tiếp thu biểu hiện văn hoá ứng xử giới ở giai đoạn trước 13 và những phát hiện tiến bộ mới mẻ được kế thừa và phát huy ở giai đoạn sau. Qua đó, luận văn mong muốn giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện về sự tiếp thu và phát triển tư tưởng văn hoá ứng xử giới trong văn học trung đại qua từng thời kì. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Khái lược về Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” 1. Tác giả Nguyễn Dữ Tài liệu về Nguyễn Dữ cũng như cuộc đời và sự nghiệp của ông đến nay không có nhiều. Theo các tài liệu ghi chép từ trước đến nay, Nguyễn Dữ là người xã Đường Lâm, huyện Gia Phúc, Hồng Châu, nay là xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Chưa rõ ông sinh và mất năm nào, chỉ biết ông là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496).
Với vốn hiểu biết thâm thuý, có thông tin cho rằng ông có thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bùi Duy Tân, 2001), cũng có thể là bạn đồng học của Phùng Khắc Khoan (Nguyễn Lộc, 1976). Về vấn đề này, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các giả thuyết: - Dựa theo lời của Nguyễn Phương Đề trong “Công dư tiệp kí”, Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, Bùi Huy Bích trong “Hoàng Việt thi tuyển” cho rằng Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Giả thuyết này hiện đang tồn tại trong Giáo trình của Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. - Lại Văn Hùng dẫn theo Trần ích Nguyên trong “Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” lại cho rằng Nguyễn Dữ là người đồng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ông dự đoán “Nguyễn Dữ sinh vào khoảng thập niên cuối thế kỉ XV và mất khoảng thập niên thứ tư thế kỉ XVI, thọ 50 tuổi” và không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dù còn có những điều không rõ như trên nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: Nguyễn Dữ sinh ra vào khoảng cuối thế kỉ XV và lớn lên vào nửa đầu thế kỉ thứ XVI. Đấy là thời kì nhà nước phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào con đường suy yếu, và sự suy yếu đã nhanh chóng trở nên trầm trọng. Chỉ trong vòng ba mươi năm từ khi Lê Thánh Tông mất đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua đã có tới 6 ông vua lên ngôi rồi bị giết hoặc bị phế truất.
Có vị 15 bị coi là “vua quỷ”, có vị bị coi là “vua lợn”. Những gì mà Lê Thánh Tông – vị vua được coi là anh minh số một của nền phong kiến Việt Nam – dầy công xây dựng đã nhanh chóng sụp đổ. Lê Hiển Tông đã từng than thở về tình trạng quan trường hư nát và dù đã có chấn chỉnh nhưng vẫn không cứu vãn được tình trạng suy vi đó. “Đại Việt sử kí toàn thư” đã viết: “ Sao mà những kẻ tại chức đều bị vị, không nghĩ đến phép tắc của triều đình.
Người vì nước quên nhà thì ít, người bỏ phận thiếu chức thì nhiều, tha giàu bắt nghèo, không chừa thói cũ tham tiền khoét của vẫn theo lối xưa”. Thế rồi “chính sự phiền hà, lòng dân oán hận”, “thổ mộc bừa bãi” lại thêm đại hạn, đói khổ, nhân dân thất nghiệp, trộm cắp nổi dậy. Vua hoang dâm xa xỉ, bất lực hoặc chết yểu. Trong “Đại Việt sử kí toàn thư” có ghi chép rằng: “các quyền thần đánh lẫn nhau, giết nhau dưới cửa khuyết, dây máu chốn kinh sư”.
Chiến tranh loạn lạc xảy ra khắp nơi: năm 1511, Thân Duy Nhạc dấy quân ở Kinh Bắc, Trần Tuân làm loạn ở Sơn Tây, năm 1512, Nguyễn Nghiêm loạn ở Sơn Tây, Hưng Hoá, năm 1515, loạn Phùng Chương ở Tam Đảo, loạn Đặng Hân, Đặng Ngật ở Thanh Hoá, loạn Trần Công Ninh ở Yên Lãng, Trần Cảo khởi binh đánh nhà Lê. Những cuộc chiến tranh ấy đã khiến cho suốt cho cả vùng Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây đến Thanh Hoá và cả kinh đô Thăng Long chìm đắm trong khói lửa chiến tranh. Thêm vào nữa là cuộc chiến tranh Lê – Mạc, một cuộc chiến tranh dai dẳng, quyết liệt, một cuộc chiến mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng viết: Cá đầm, sẻ bụi vì ai đuổi Núi xương, sông máu thảm đầy vơi. (Ngụ ý – Nguyễn Bỉnh Khiêm) Tình trạng ấy gây nên một sự xuống cấp, suy thoái trong hàng ngũ Nho sĩ.
Lê Quý Đôn đã từng than thở: “Từ năm Đoan Khánh trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức ít giữ được phong độ thanh liêm, nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè, cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu 16 người gọi là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ, nào ca, trao đổi, khoe khoang, tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng…” Đứng trước một hiện thực như vậy, những nhà nho có khí tiết không thể tránh khỏi sự ngơ ngác, sự chán chường bởi sự đổ vỡ của niềm tin, lí tưởng. Không ít người đã từ quan mà về quê, trong số ấy có Nguyễn Dữ. Là con của Nguyễn Tường Phiêu - một bậc đại khoa, tước vị vào hàng nhất phẩm - Nguyễn Dữ đã cáo quan mà về, phản ứng ấy của ông là biểu hiện của một sự “phát phẫn” của một trí thức, một danh sĩ trước thời cuộc. Nguyễn Dữ cảm thấy xã hội ấy không có chỗ cho mình.
Cáo quan về, viết “Truyền kỳ mạn lục”, đấy là một hiện tượng “phát phẫn trứ thư” (phát phẫn viết sách) của ông. Nguyễn Dữ đã dồn vào tác phẩm của mình tất cả những điều mắt thấy tai nghe với một mong muốn khuyến khích điều thiện, răn phạt cái ác, thương xót kẻ cùng quẫn, oan khuất. Như vậy, Nguyễn Dữ đỗ đạt và từng làm quan dưới triều Hậu Lê, nhưng chắc chắn không làm quan dưới thời nhà Mạc và có thái độ chống đối tân triều quyết liệt. Ông không chọn quê hương, chốn mình sinh ra làm nơi ẩn dật như bao danh sĩ khác.
Nguyễn Dữ tìm đến ẩn mình nơi núi rừng Thanh Hoá xa xôi và yên tĩnh. Đây là quê ngoại, nơi ông trở về phụng dưỡng mẹ già. Nhà Nho ẩn dật Nguyễn Dữ tỏ ra hết sức gắn bó và am hiểu vùng đất này, và nơi đây cũng trở thành không gian cho rất nhiều tác phẩm của ông. Tất cả những điều trên đây giải thích với chúng ta vì sao “Truyền kỳ mạn lục” tuy là những câu chuyện kì ảo, sưu tầm trong dân gian nhưng lại phản ánh hiện thực một cách sinh động và sâu sắc.
Người đọc khi tìm hiểu tác phẩm này không chỉ có thêm cái nhìn chân thật hơn về bối cảnh xã hội thời đại đương thời, bên cạnh đó còn hoà vào thế giới nhân vật rất phong phú do Nguyễn Dữ xây dựng trong tác phẩm của mình đặc biệt là dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới khá rõ ràng và đặc sắc. Có thể nói, đến Nguyễn Dữ, thể loại truyền kì đã 17 đạt đến đỉnh cao, và “Truyền kì mạn lục” cũng được xem là tác phẩm sáng giá nhất trong sự nghiệp sáng tác văn chương của ông. Giáo sư Nguyễn Đăng Na đã từng nhận xét về tác phẩm này: “Đến với Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu nghệ thuật văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật, bắt đầu cho việc lấy đối tượng là con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” (Nguyễn Đăng Na, 1997) 1. Tác phẩm Truyền kì mạn lục Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Nguyễn Dữ còn để lại duy nhất một tập truyện văn xuôi chữ Hán “Truyền kì mạn lục”.
Từ các công trình nghiên cứu về tác phẩm này cho thấy hiện đang có nhiều văn bản. Ngoài bản được khắc in năm 1712 (có bài tựa của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định sơ niên 1547) còn có một số bản chép tay. Các bản này ngoài phần nguyên văn chữ Hán của Nguyễn Dữ còn có phần tăng bổ giải âm tập chú có chú thích điển cố và chữ khó. Dựa vào thời điểm mà Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tác phẩm này năm 1547 và kết hợp với tư liệu cuộc đời Nguyễn Dữ, có thể thấy “Truyền kỳ mạn lục” ra đời vào nửa đầu thế kỷ XVI (khoảng những năm 20 – 30).
Đấy là lúc mà giai cấp thống trị thì tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau. Tất cả đều giả dối, vô đạo, tham lam, độc ác và đều có kết cục bi thảm hoặc bị trừng phạt, hoặc bị phủ nhận, hoặc bị lên án chê cười. Trong xã hội ấy, các tầng lớp khác đặc biệt là người phụ nữ chính là nạn nhân đau khổ nhất của thiết chế xã hội, của quan niệm Nho giáo, mọi hành vi ứng xử đều bị chi phối bởi tư tưởng nam quyền khắc nghiệt. Trong số ấy, có người được lên xem tiên cảnh, được thành tiên, được giải oan vì đức độ, vì trung thực, vì những phẩm chất tốt đẹp.