chương 1 và chương 4 của nghiên cứu Representation: Cutural Representation and signifying practices (Sự trình hiện: Trình hiện văn hóa và thực hành biểu đạt) của tác giả người Anh – Stuart Hall. Sự trình hiện là một quá trình tạo nên ý nghĩa và truyền tải những ý nghĩa ấy giữa các thành viên trong một nền văn hóa. Sự trình hiện là một quá trình nối kết ba yếu tố: ngôn ngữ, ý nghĩa và văn hóa. “Sự trình hiện là một phần thiết yếu của quá trình sản xuất và trao đổi ý nghĩa giữa các thành viên của một nền văn hóa.
Quá trình ấy bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu và hình ảnh để đại diện hay thể hiện” (Representation is an essential part of the process by which meaning is produce and exchanged between members of a culture. It does involve the use of language, of sign and images which stand for or represent) [34, tr. Sự trình hiện sử dụng chất liệu là ngôn ngữ để gợi nên những khái niệm đã tồn tại trong đầu người bản ngữ. Sự trình hiện nốt kết kinh nghiệm của cá nhân đến những trải nghiệm thực tiễn để nhận thức về thế giới.
Văn chương trình hiện đối tượng bằng chất liệu ngôn từ, xâm nhập vào trí tưởng tượng của ta để tạo nên một khái niệm về đối tượng. Điện ảnh khiến ta phải trải nghiệm nhiều thực tại bằng sự kết hợp thính giác, thị giác. Sự trình hiện trên nhiều chất liệu văn bản khiến đời sống tinh thần của con người thêm phong phú, giàu trải nghiệm, liên tưởng. Dù ta chưa bao giờ gặp được một nhân vật nào giống với tác phẩm văn học hay tác phẩm điện ảnh trong đời thực nhưng ta vẫn có thể đồng cảm, suy nghĩ cùng của họ.
Những ấn tượng ấy chính là kết quả của sự trình hiện trên các sáng tác nghệ thuật. Trong thực tế, quá trình ấy diễn ra phức tạp hơn thế, sự trình hiện có thể được lí giải theo ba hướng lí thuyết. Thuyết thứ nhất là thuyết phản ánh – reflective, là khi ta Luan van 23 dùng ngôn ngữ để tái hiện lại một thế giới đã có sẵn, tồn tại khách quan. Thế giới ấy không bị chi phối bởi suy nghĩ chủ quan của con người.
Lí thuyết này giống như sự vận hành của chiếc gương phẳng, bất cứ thứ gì được phản chiếu mang tính khách quan và trung thực. Lí thuyết thứ hai là thuyết mục đích– intentional, hướng lí thuyết này không quan tâm đến chất liệu và hình thức tạo nên quá trình mà hướng đến mục đích của người nói, hay người sáng tạo. Cách diễn giải sự trình hiện theo hướng lí thuyết này bị chi phối chủ yếu bởi tính chủ quan tuyệt đối của tác giả, hạn chế khả năng can thiệp vào ý nghĩa của người đọc. Hướng lí thuyết thứ ba là thuyết kiến tạo - contructionist, cho rằng cấu trúc của ngôn ngữ tạo nên ý nghĩa.
Trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn theo hướng lí thuyết cấu trúc luận, cũng là hướng nghiên cứu chủ yếu của Stuart Hall trong toàn bộ cuốn sách của ông. Thuyết kiến tạo về sự trình hiện gồm hai mô hình nghiên cứu sự trình hiện là: mô hình theo phương pháp kí hiệu học với đại diện là Ferdinand de Saussure và mô hình diễn ngôn với đại diện là Michel Foucault. Trong công trình nghiên cứu của Hall, ông lựa chọn diễn giải sự trình hiện bằng cả hai mô hình để công chúng có nhiều cơ hội thể hiện cách hiểu của mình về lĩnh vực phân tích khác nhau. Tuy nhiên, trong dung lượng có hạn của nghiên cứu, người viết tập trung vào mô hình thứ nhất của Saussure với nền tảng là nghiên cứu kí hiệu học.
Bản chất của sự trình hiện Sự trình hiện được định nghĩa theo “Shorter Oxford English Dictionary” gồm hai cấp độ. Ở cấp độ thứ nhất, sự trình hiện là sự mô phỏng lại những gì được gợi lên trong tâm trí của người nói – mental representation. Đối tượng được trình hiện có thể rất cụ thể, tồn tại trong thế giới thực, trong khoảng thời gian đang được nhắc đến. Nhưng đối tượng cũng có thể là những điều trừu tượng, mơ hồ, dự đoán.
Ở cấp độ thứ hai, sự trình hiện có khả năng đại diện, biểu tượng cho một ý nghĩa cố định nào đó. Sự trình hiện ấy phải được đặt trong không gian văn hóa. Ví dụ, trong một triển lãm nghệ thuật đa quốc gia, chiếc áo dài là biểu tượng cho trang phục truyền thống người phụ nữ Việt Nam. Hay trong trường phổ thông, áo dài trắng là biểu tượng trang phục của nữ sinh.
Luan van 24 Sự trình hiện là tất cả những gì được gợi lên bằng hình ảnh, khái niệm trong tâm trí con người khi ta tiếp xúc với một dấu hiệu của vật đó. “Sự trình hiện là quá trình tạo nên ý nghĩa của khái niệm trong tinh thần thông qua ngôn ngữ” (Representation is the produce of the meaning of the concept in our minds through language) [34, tr. Những khái niệm đã tồn tại sẵn trong đầu óc của mỗi cá nhân nên khi nhắc đến những dấu hiệu quen thuộc, ta vẫn nhận ra người đối thoại đang miêu tả điều gì. Trong bài viết, Stuart Hall dùng ví dụ về cái cây.
Khi ta nhìn thấy cái cây, khái niệm về cái cây được lưu trữ trong tâm trí ta. Dù sau đó, không nhìn thấy cái cây trong thực tế nữa nhưng khi nhắc đến khái niệm “cây”, trong đầu ta lập tức hiện lên hình ảnh một thực thể có thân gỗ lớn, được bao quanh trên cao bằng những tán lá xòe rộng xung quanh. Tất nhiên, cây trong cuộc sống có rất nhiều loại và không phải cây nào cũng là thân gỗ, có cây thân leo, thân trữ nước, thân mềm… Nhưng trong tâm trí ta sẽ thường hình dung về một cái cây tiêu biểu nhất, đại diện cho tất cả các loại cây. Vậy ấn tượng hiện lên trong đầu ta chính là yếu tố của sự trình hiện.
Khái niệm công cụ để phân tích sự trình hiện là kí hiệu (sign). Sự trình hiện là quá trình nối kết các yếu tố khái niệm thuộc một nền văn hóa trong hệ thống kí hiệu để thể hiện một ý nghĩa nào đó. Ý nghĩa của sự trình hiện không phụ thuộc hoàn toàn vào ý niệm của tác giả. Sự trình hiện phải được tạo nên từ những khái niệm về ý nghĩa đã tồn tại trước trong đầu những người bản xứ.
Vì thế, sự trình hiện phải được nối kết giữa khái niệm và ngôn ngữ để đại diện cho thế giới khách quan và chủ quan của con người. Khái niệm công cụ phân tích sự trình hiện Kí hiệu là công cụ chủ yếu trong tiến trình phân tích sự trình hiện. Nhưng để tạo nên một hệ thống kí hiệu toàn vẹn và thống nhất, có thể vận hành trong đời sống xã hội thì kí hiệu ấy phải chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Trong đó, mật thiết nhất để tạo nên một kí hiệu là bản đồ khái niệm (conceptual maps) và ý nghĩa (meanings).
Luan van 25 Bản đồ khái niệm Yếu tố đầu tiên là khái niệm (concept), đây là yếu tố sinh ra từ tính chất võ đoán của văn hóa và ngôn ngữ. “Khái niệm được sinh ra trong cấu trúc của tâm trí như một hệ thống trình hiện trong tâm trí với cách sắp đặt và tổ chức thế giới trong ý nghĩa của nó” (The concepts which are formed in the mind function as a system of mental representation which classifies and organizes the word into meaningful categories) [34, tr. Có khái niệm về thế giới, con người mới có thể nói ra những điều có ý nghĩa. Nhưng nó không thể vận hành được nếu thiếu đi phương tiện để giao tiếp với người khác là ngôn ngữ - chất liệu của kí hiệu.
Bản đồ khái niệm (conceptual maps) là một “danh sách” tổng hợp những hiểu biết, hình dung của người bản xứ về đối tượng. Đó là sự trình hiện tự nhiên trong tâm trí con người. Mỗi khi tiếp xúc với một đối tượng, sự kiện trong cuộc sống thực, con người thường “dán nhãn” để phân biệt chúng với những đối tượng khác. Và mỗi khi từ ngữ được nhắc lại, hình ảnh về vật thể ấy lại được tái hiện sống động trong tâm trí ta.
Sự tích lũy về khái niệm không ngừng tăng lên nhờ trải nghiệm của con người với cuộc sống khách quan. Những thành viên trong cùng một nền văn hóa sẽ có thể giao tiếp với nhau dựa trên sự tương đồng về bản đồ khái niệm ấy. Giới hạn của bản đồ khái niệm không chỉ dừng lại trong đối tượng ở thực tại mà còn thể hiện những điều trừu tượng hay thế giới giả tưởng. Bản đồ khái niệm mang tính cộng đồng, ý nghĩa được thiết lập bằng sự võ đoán của ngôn ngữ.
Văn hóa được xác định trong quá trình những thành viên cùng chia sẻ với nhau bản đồ khái niệm trong giao tiếp, sáng tác để truyền tải suy nghĩ, cảm xúc, quan niệm cá nhân. Kí hiệu Yếu tố thứ hai là kí hiệu (sign). “Kí hiệu được tổ chức trong ngôn ngữ và chính sự hiện hữu của ngôn ngữ chung là điều cho phép chúng ta phiên dịch suy nghĩ (khái niệm) thành từ ngữ, âm thanh hay hình ảnh, sau đó việc sử dụng những yếu tố này, vận hành như một ngôn ngữ, để thể hiện ý nghĩa và truyền đạt suy nghĩ với những người khác. Kí hiệu là khái niệm công cụ trong nghiên cứu ngôn ngữ học, theo trường phái cấu trúc của nhà ngôn ngữ học Saussure.
Trong phân tích sự trình hiện văn hóa, kí hiệu chứa đựng cách hiểu của tất cả cá nhân trong cùng nền văn hóa về một khái niệm nào đó. Kí hiệu có mối quan hệ mật thiết với ngôn ngữ. Trong kí hiệu phải dung hòa cả hai hệ thống nền tảng của sự trình hiện, là nối kết được ba yếu tố: khái niệm, kí hiệu và ý nghĩa. Bản chất của kí hiệu là giá trị nhị nguyên đến từ hai mặt đối lập nhưng không thể tách rời: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified).
Trong bài viết “Về cái biểu đạt và cái được biểu đạt của kí hiệu”, tác giả Nguyễn Thị Minh phân tích khái niệm cái biểu đạt trong kí hiệu học là: “Cái biểu đạt không phải âm vật chất mà là vết tâm lí, biểu tượng mà giác quan cung cấp”. Cái biểu đạt xuất phát trong văn bản, không đơn giản chỉ là kí hiệu chữ viết hay âm đọc mà là “hình ảnh âm học vật chất trong sự suy nghĩ, tưởng tượng của con người, mang yếu tố tâm lí” [15]. Cái biểu đạt không phải là sự sáng tạo mang tính cá nhân mà là quy ước chung được cộng đồng chấp nhận. Do đó, trong sáng tạo nghệ thuật, tác giả có thể tạo nên một cái biểu đạt khác với hình dung của công chúng về đối tượng đó.