mở đầu bằng câu có những từ này kèm lời chú tác giả của nó: Tat cả bọn các anh là thé hệ vứt 13 di. Nhưng sự thật thì tac gia của những từ nay là nữ nhà văn Gertrude Stein (1874-1946).Hemingway đã kể về sự xuất hiện của những từ này trong một cuốn sách khác mang tính tự thuật của ông có nhan đề A Moveable Feast (tạm dịch: Hội hè di động), được vợ ông xuất bản năm 1964, sau khi ông qua đời. Trong chương Une generation perdue ông viết rang có một lần, một anh thợ loay hoay mãi vẫn không sửa được chiếc xe “Ford” của Gertrude Stein khiến bà rất bực mình và nói: “Tất cả bọn trẻ các anh đã từng ở ngoài mặt trận. Các anh là thế hệ vứt di”.
(All of you young people who served in the war. You are a lost generation. “Các anh chăng lưu tâm cái gi sat. Các anh uống say cho đến chết” (You have no respect for anything.
Youdrink yourselves to death). Dan dan biểu thức nay được rút gon lai và trở thành một thuật ngữ trong nghiên cứu phê bình van hoc. Trong những năm 1920, ở phương Tây, biéu thức “thế hệ vứt đi” được sử dụng rộng rãi như là sự định tính cho thế hệ thanh niên đã từng trải qua cuộc chiến tranh thế giới thứ Nhất nhưng rất khó tìm được chỗ đứng của mình trong cuộc sống thời bình. Theo nghĩa ấn dụ, “thế hệ vứt đi” nhằm nói về những thanh niên đối với xã hội là những kẻ “vô tích sự” và đối với bản thân không thể tìm được khả năng thích ứng với hoàn cảnh sống mới.
Khởi đầu của những thử nghiệm sáng tạo là các nhà văn thuộc thế hệ trước chiến tranh như Gertrude Stein và Sherwood Anderson sống ở Paris. Tiếp đó đến các nhà văn và nhà thơ “thế hệ vứt đi”, những người đã bước vào văn học Mỹ ngay từ những năm 1920 và mang lại cho nền văn học này vinh quang toàn thế giới. Trong ý thức của độc giả nước ngoài, tên tuổi của họ gan liền với hình dung nói chung về văn học Mỹ. Đó là Ernest Hemingway, William Faulkner, F.ScottFitzgerald, John DosPassos, Thornton Wilder và nhiêu nha văn khác, chu yêu là các nhà hiện dai chủ nghĩa.
14 Chủ nghĩa hiện đại trong văn học Mỹ khác biệt so với châu Âu bởi sự tham dự vào những sự kiện chính tri và xã hội của thời dai: da số các tác giả không thể im lặng hoặc bỏ qua trải nghiệm chiến tranh của bản thân và họ bị thôi thúc phải phản ánh những trải nghiệm đó trong các tác phẩm của mình. Điều này cũng dẫn đến sự hiểu lầm của đa số các nhà phê bình coi những nhà văn này là những nhà “hiện thực phê phán”. Trong khi đó giới phê bình văn học của Mỹ xác định họ là “thế hệ vứt đi”. Vậy thì nguồn gốc tính chất “vứt di” của cả một thé hệ là gì? Nguồn gốc sâu xa của nó chính là cuộc Chiến tranh thế giới thứ Nhất, một cuộc chiến được xem là một thử thách đối với toàn thé nhân loại.
Có thé hình dung nó đã đem lại những gì cho các chàng trai tràn đầy lạc quan, hi vọng và ảo tưởng về lòng yêu nước. Ngoài việc họ trực tiếp rơi vào chiếc “cối xay thịt”, như cách người ta hay gọi về cuộc thé chiến này, tiểu sử của họ bắt đầu ngay từ những căng thăng tột độ về thé xác và tinh than, từ những thử thách nặng nề ho phải đón nhận mà không hề được chuẩn bị từ trước. Dĩ nhiên, đó là sự đôi thay của tâm hồn. Chiến tranh luôn bứt họ ra khỏi những mối liên hệ quen thuộc, đây họ vào những mat mát đau thương hoài nghỉ, đau khô và nó đã quy định nên đặc điểm của cả một thế giới quan mang đậm tính chất bi kịch của họ.
Nhưng Gertrude Stein khi khăng định rằng những người thuộc “thế hệ vứt đi” không coi trọng “thứ gì” nhưng bà lại chứng tỏ được rằng họ rất minh bạch trong quan điểm sống của mình. Kinh nghiệm phong phú về sự đau khổ, cái chết và sự vượt lên không chỉ rèn luyện cho thế hệ này tinh thần hết sức vững vàng mà còn dạy cho họ biết phân biệt rạch ròi và coi trọng những giá trị bền vững của cuộc sống: sự hòa hợp với thiên nhiên, tình yêu đối với phụ nữ, tình bằng hữu và sự sáng tạo. Những đại diện của văn học “thế hệ vứt di” Văn học "thế hệ vứt đi" với tư cách là một trào lưu, xuất hiện trong các nền văn học Tây Âu và Mỹ khoảng mười năm sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ Nhất. “Giờ hoàng đạo” của văn học “thế hệ vứt đi” là năm 1929, khi xuất hiện những tác phẩm xuất sắc về chiến tranh như Cái chết của một anh hùng của nhà văn Anh R.Aldington, Phía Tây không có gi lạ của nhà văn Đức E.Remarque va Gid tr vii khí của nha văn Mỹ E.
Khoảng thời gian mười năm sau chiến tranh là một độ lùi thời gian cần thiết để ký ức chiến tranh được lưu giữ và thê hiện trong những tác phẩm có phẩm chất nghệ thuật cao chứ không phải chỉ là những phác thảo, những mau chuyện hoặc những tác phẩm mang tính báo chí, chính luận nữa. Dưới đây là bản “trích ngang” của một số nhà văn thuộc trào lưu “thế hệ vứt đi”: Erich Maria Remarque (22. Remarque là một nhà văn Đức kiệt xuất, một trong số tác giả gặt hái được thành công rực rỡ khi sáng tác về mảng đề tai chống chiến tranh. Trước khi nổi tiếng, ông đã tham gia chiến tranh thé giới thứ Nhat và đã bị thương khi chưa kịp tham chiến, khi ông trở lại cuộc sống đời thường là thời kì nước Đức đang trên danh nghĩa của nước bại trận, lung lay bởi sự sup dé của một chế độ quân chủ, cách mạng và lạm phát đang lâm vào khủng hoảng cả kinh tế, chính tri và xã hội, ông đã làm rất nhiều nghé dé kiếm sống sau đó là viết báo và làm nhà văn, nhưng cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông không thành công.
Chỉ đến khi hai cuốn tiêu thuyết của ông là Phía Tây không có gì lạ viết về cuộc chiến tranh thé giới thứ Nhat và Thời gian dé sống và thời gian dé chết viết về cuộc chiến tranh thé giới thứ Hai ra đời và trở thành hai tác phâm nôi tiêng đã đưa nhà văn từ một nhà báo 16 không có tên tudi trở thành nhà văn tên tuổi lẫy lừng trên toàn thế giới. Cuốn tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ (1929) là sự tố cáo tội ác của nước Duc trong chiến tranh thế giới thứ Nhất một cách mạnh mẽ, đó là sự thờ ơ, coi rẻ sinh mạng con người trong chiến tranh của những kẻ cầm quyền. Ngoại trừ đoạn kết thật ngắn, cuốn tiêu thuyết là tổng hợp những ghi chép của Paul Baumer từ khi vào lính và kết thúc trước ngày đình chiến vài ngày, tác phẩm miêu tả rõ nét tất cả sự tàn bạo của chiến tranh và và nội tâm của các binh sĩ, với họ tất cả dan trở nên vô nghĩa và biến mat ké cả ý thức về thời gian. Cuốn tiêu thuyết được bắt nguồn từ những trải nghiệm của chính tác giả khi tham chiến, tận mắt chứng kiến cái chết thương tâm và vô nghĩa lý của người bạn, chết không phải vì vết thương quá nặng mà vì không được ai chăm sóc.
Bên cạnh đó, vì cố găng cứu người bạn mà nha văn cũng bị thương và cùng lúc là tin về sự ra đi của người mẹ, những điều đó khiến nhà văn thực sự bị sốc. Và dù nhà văn chỉ bị thương, chưa trực tiếp đối diện với quân địch, song nhà văn cũng đã hiểu được sự mong manh của đời người, đánh mat tat cả những ảo tưởng về chủ nghĩa yêu nước, bắt đầu ấp ủ trong lòng mình nỗi cô đơn bat tận với thế giới xung quanh và trở thành một trong những người phát ngôn xuất sắc cho một thế hệ bị chiến tranh tan phá. Cuốn tiểu thuyết đã làm chan động cả nước Đức bởi đây là đất nước có hàng triệu người đã và đang hứng chịu những đau thương và mat mát cả thê xác lẫn tinh than do những hậu quả của chiến tranh thé giới thứ Nhất để lại. Họ ca ngợi cuốn tiêu thuyết là bản đi chúc của những người đã ngã xuống trên chiến trường.
Nhưng cũng chính vì thế mà các tác phẩm của ông ở chính quốc đã từng bị tiêu hủy và ông bị truy đuổi, ngay từ năm 1933, Remarque đã phải sống cuộc sống lưu vong. Đầu mùa hè năm 1935, ông đến Paris và đến năm 1939 ông về sống ở Mỹ, các tác phâm nồi tiếng của ông lần lượt được dựng thành phim tại Hollywood và New York 17 và tên tuổi của ông càng thêm ni tiếng và càng có thêm nhiều tác phẩm về chiến tranh của ông ra đời: Ban Hữu(1937), Những kẻ lưu vong(1941), Khải hoàn môn(1945),. Năm 1952, ông quay về Đức trong một thời gian rất ngắn, và bị nhà xuất bản ở Đức yêu cau cắt ngăn ban thảo cuốn Mot thời để sống và một thời dé chết vì họ e ngại các đoạn tả lĩnh Đức giết người dân vô tội một cách lạnh lùng không thương xót sẽ khiến không ai muốn mua sách. Ông quy thuận một cách lặng lẽ nhưng trong lòng day tuyệt vọng, ông cảm thay xa lạ với chính đồng bào mình.
Chiến tranh đã kết thúc thật sự nhưng hậu quả mà nó để lại là một xã hội dé vỡ, đầy những nghi ki, lo sợ, vô nhân đạo, mất niềm tin và trong E.Rermarque luôn ấp ủ một nỗi cô đơn bắt tận với thế giới xung quanh và với cả những người gần gũi nhất.1962) Richard Aldington là một tác giả văn học Người Anh được biết đến với rất nhiều tác phẩm nổi tiếng nói đến sự phi lí của chiến tranh. Aldington bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình ở London như một cộng tác viên cho một tờ báo thé thao trong thời gian còn học đại học. Do tình hình tài chính nên ông không học tiếp đại học mà tham gia chiến tranh thế giới thứ Nhất vào năm 1916 và bị đã thương và những chan động tinh than của nó đã ảnh hưởng rất lớn đến suốt quãng đời còn lại của ông. Sau 2 năm tham chiến ông đảo ngũ và phải sống lưu vong, ông đến Paris và tiếp tục sự nghiệp văn chương của mình ở đây.