Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Văn chương là loại hình nghệ thuật của ngôn từ, nơi mỗi nhà văn định hình phong cách cá nhân thông qua việc lựa chọn và tổ chức các phương tiện ngôn ngữ. Trong tiến trình văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, Thạch Lam (1910 – 1942) nổi lên như một cây bút văn xuôi tiêu biểu của Tự Lực văn đoàn với phong cách truyện ngắn trữ tình độc đáo, kết hợp giữa cảm quan lãng mạn và tinh thần hiện thực giàu tính nhân văn. Mặc dù sự nghiệp sáng tác chỉ kéo dài trong khoảng 5 – 6 năm với ba tập truyện ngắn chính gồm Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938) và Sợi tóc (1942), các tác phẩm của ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn học dân tộc.
Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây về Thạch Lam chủ yếu tiếp cận từ góc độ tiểu sử, tư tưởng thẩm mỹ, bút pháp nghệ thuật hoặc phân tích thế giới nhân vật. Các khảo sát về mặt ngôn ngữ nghệ thuật tuy có được đề cập nhưng còn mang tính khái quát, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát một cách có hệ thống về một từ loại cụ thể trong văn bản nghệ thuật của nhà văn. Nhận thấy từ loại tính từ xuất hiện với mật độ dày đặc và giữ vai trò cốt lõi trong việc định hình phong cách văn xuôi Thạch Lam, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hằng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tính từ trong một số truyện ngắn của Thạch Lam" tại Trường Đại học Võ Trường Toản (năm 2014). Bên cạnh mục đích học thuật, đề tài còn mang ý nghĩa thực tiễn khi tác phẩm của Thạch Lam được đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa ở bậc trung học phổ thông.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về từ loại tính từ trong tiếng Việt dựa trên các công trình nghiên cứu ngữ pháp học và ngôn ngữ học đại cương.
- Khảo sát, thống kê và phân loại các tính từ xuất hiện trong ngữ liệu truyện ngắn được lựa chọn của Thạch Lam theo các tiêu chí ngữ nghĩa và ngữ pháp.
- Phân tích chức năng ngữ pháp và vai trò nghệ thuật của từ loại tính từ trong việc miêu tả không gian thiên nhiên, cảnh vật cũng như khắc họa bức tranh đời sống của tầng lớp nhân vật nghèo khổ.
- Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng phân tích ngôn ngữ văn chương một cách có hệ thống.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là từ loại tính từ tiếng Việt và giá trị biểu đạt nghệ thuật của lớp từ này. Phạm vi khảo sát ngữ liệu được giới hạn trong 17 truyện ngắn được in trong cuốn Thạch Lam - Tuyển tập do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2012, bao gồm: Hai đứa trẻ, Hai lần chết, Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan, Tình xưa, Tối ba mươi, Cô hàng xén, Cuốn sách bỏ quên, Đứa con đầu lòng, Đói, Gió lạnh đầu mùa, Nhà mẹ Lê, Một đời người, Một cơn giận, Người bạn cũ, Người lính cũ và Sợi tóc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiến hành tổng thuật các quan niệm ngữ pháp học về tính từ trong tiếng Việt qua nhiều giai đoạn nghiên cứu. Các tác giả và tài liệu được tham chiếu gồm: Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại), Nguyễn Kim Thản (Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt), Hoàng Tuệ (Tuyển tập ngôn ngữ học), Hữu Đạt - Trần Trí Dõi - Đoàn Thanh Lan (Cơ sở tiếng Việt), Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán (Đại cương ngôn ngữ học), Nguyễn Thiện Giáp (Dẫn luận ngôn ngữ học), Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp tiếng Việt), Bùi Tất Tươm (Giáo trình tiếng Việt), Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến (Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt), Mai Thị Kiều Phượng (Ngôn ngữ học đại cương), Lê Biên (Từ loại tiếng Việt hiện đại), Bùi Đức Tịnh (Văn phạm Việt Nam), Nguyễn Văn Tư (Ngữ pháp tiếng Việt 1), Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (Ngữ pháp tiếng Việt) và Nguyễn Chí Hòa (Ngữ pháp tiếng Việt thực hành).
Về mặt phân loại học, khóa luận tổng hợp các cách phân chia tính từ đa dạng của giới nghiên cứu Việt ngữ:
- Nguyễn Thiện Giáp chia tính từ theo khả năng đòi hỏi bổ ngữ (tính từ không đòi hỏi bổ ngữ, tính từ đòi hỏi bổ ngữ, tính từ lưỡng tính).
- Lê Biên phân loại dựa trên thang độ đánh giá (tính từ chỉ đặc trưng/tính chất tuyệt đối và tính từ chỉ đặc trưng phẩm chất có thang độ).
- Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung chia thành tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ và không xác định thang độ.
- Nguyễn Hữu Quỳnh phân chia dựa vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp.
Nhằm đảm bảo tính thuận tiện và nhất quán cho việc khảo sát ngữ liệu văn học, tác giả quyết định lựa chọn khung phân loại của Nguyễn Hữu Quỳnh (Ngữ pháp tiếng Việt) làm cơ sở lý thuyết trung tâm. Khung phân loại này chia tính từ thành ba nhóm lớn:
- Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật: Gồm tính từ chỉ màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng, hồng, thắm...), hình thể (to, nhỏ, tròn, vuông, lệch, méo...), dung lượng (nặng, nhẹ, căng, xẹp, béo, gầy...) và kích thước (dài, ngắn, cao, thấp, rộng, hẹp, gần, xa...).
- Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật: Gồm các từ chỉ phẩm chất, tính chất nội tại (tốt, xấu, bền, vững, chắc chắn, cứng, mềm, dẻo, ngon, ngọt...), trạng thái tâm lý, tính cách (dữ, hiền, vui, buồn, gan dạ, sung sướng, tích cực, dũng cảm, ngây thơ...) và các cụm kết hợp biểu thị đặc tính (xanh mặt, to gan, nhanh tay, nhanh chân, cao tay, cứng tay, mau miệng...).
- Tính từ miêu tả: Gồm các từ chỉ lượng tính hoặc tính chất ở mức độ cụ thể (đầy, vơi, nhiều, ít, dày, thưa, trắng phau, trắng nõn, đen sì, thơm phức...).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp ba phương pháp chính:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập toàn bộ các lượt xuất hiện của tính từ trong 17 truyện ngắn, phân loại theo các nhóm ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các luận điểm lý thuyết về từ loại tính từ và các nhận định văn học sử về văn nghiệp Thạch Lam.
- Phương pháp phân tích: Làm sáng tỏ các giá trị ngữ dụng, ngữ nghĩa và hiệu quả biểu cảm của từng lớp tính từ trong ngữ cảnh tác phẩm cụ thể.
Nguồn ngữ liệu khảo sát được trích lục trực tiếp từ tuyển tập truyện ngắn của tác giả Thạch Lam. Bên cạnh đó, các tài liệu tham khảo bổ trợ được thu thập từ Thư viện Trường Đại học Võ Trường Toản và Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ, bao gồm các bài viết và công trình phê bình của Thế Uyên, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Phong Lê, Vũ Ngọc Phan, Trần Ngọc Dung, Hồ Dzếnh, Phạm Thế Ngũ và Vũ Tuấn Anh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về tính từ
Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận đại cương về từ loại tính từ trong tiếng Việt. Tác giả điểm lại các định nghĩa từ cơ bản đến chuyên sâu, rút ra nhận định chung: tính từ là từ loại thuộc lớp thực từ, dùng để chỉ tính chất, trạng thái, đặc trưng của người, sự vật, hoạt động hoặc hiện tượng.
Về đặc điểm ngữ pháp, chương này đi sâu vào hai khía cạnh:
- Khả năng kết hợp: Tính từ có khả năng kết hợp điển hình với các phụ từ/phó từ chỉ mức độ (rất, hơi, khá, lắm, cực kỳ, tương đối...). Ngược lại, tính từ về cơ bản không kết hợp trực tiếp với các từ chỉ mệnh lệnh (hãy, chớ, đừng...) hoặc từ chỉ sự kết thúc quá trình (rồi, xong...), ngoại trừ một số trường hợp chuyển hóa ngữ cảnh cụ thể được ghi nhận bởi Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Hữu Quỳnh. Tính từ cũng có khả năng làm trung tâm của một ngữ tính từ (tính ngữ) và kết hợp với các từ chỉ thời thể (đã, đang, sẽ).
- Chức vụ ngữ pháp: Tính từ đảm nhiệm linh hoạt nhiều vai trò cú pháp trong câu:
- Làm vị ngữ: Khác với nhiều ngôn ngữ Ấn-Âu cần trợ động từ liên kết, tính từ tiếng Việt có khả năng trực tiếp đảm nhiệm chức năng vị ngữ trong câu.
- Làm định ngữ: Đây là chức năng phổ biến nhất của tính từ khi đứng sau danh từ để tạo thành cụm danh từ.
- Làm bổ ngữ: Bổ nghĩa cho động từ biểu thị cách thức, trạng thái của hành động.
- Làm chủ ngữ và thành phần phụ/biệt lập của câu: Đảm nhận vai trò thành phần biệt lập hoặc chủ ngữ trong các cấu trúc đặc thù.
Chương 1 khép lại bằng bảng so sánh hệ thống phân loại tính từ của các nhà nghiên cứu Việt ngữ học và xác lập mô hình phân loại ba nhóm của Nguyễn Hữu Quỳnh làm công cụ khảo sát thực nghiệm cho Chương 2.
| Tác giả / Công trình | Kết quả phân loại tính từ |
|---|---|
| Nguyễn Kim Thản (Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt) | - Tính từ tuyệt đối - Tính từ tương đối |
| Lê Biên (Từ loại tiếng Việt hiện đại) | - Tính từ chỉ đặc trưng, tính chất tuyệt đối (không có thang độ) - Tính từ chỉ đặc trưng thuộc về phẩm chất (được đánh giá theo thang độ) |
| Diệp Quang Ban & Hoàng Văn Thung (Ngữ pháp tiếng Việt) | - Tính từ chỉ đặc trưng có xác định thang độ - Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ |
| Nguyễn Thiện Giáp (Dẫn luận ngôn ngữ học) | - Tính từ không đòi hỏi bổ ngữ - Tính từ đòi hỏi bổ ngữ - Tính từ lưỡng tính |
| Diệp Quang Ban (Ngữ pháp Việt Nam) | - Tính từ tính chất (có thang độ và không thang độ) - Tính từ quan hệ |
| Nguyễn Hữu Quỳnh (Ngữ pháp tiếng Việt) | - Tính từ miêu tả - Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật - Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật |
| Nguyễn Chí Hòa (Ngữ pháp tiếng Việt thực hành) | - Tính từ miêu tả trạng thái - Tính từ miêu tả đặc điểm của sự vật - Tính từ miêu tả về mức độ |
| Bùi Tất Tươm (Giáo trình tiếng Việt) | - Tính từ chỉ phẩm chất, màu sắc, lượng, hình thể, cách thức, tính chất, trạng thái |
| Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp tiếng Việt) | - Tính từ chỉ kích thước, số lượng - Tính từ chỉ màu sắc |
Chương 2: Khảo sát tính từ trong một số truyện ngắn của Thạch Lam
Chương 2 mở đầu bằng phần tổng quan về cuộc đời và phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Tác giả phân tích đặc trưng văn phong "truyện không có cốt truyện", đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật, giọng điệu trữ tình êm nhẹ, giàu chất thơ và tính nhân đạo sâu sắc hướng về tầng lớp bình dân.
Nội dung trọng tâm của chương là việc trình bày kết quả thống kê, phân loại và phân tích vai trò của tính từ trong 17 truyện ngắn. Tổng cộng tác giả thu thập được 1.833 lượt tính từ, đạt mật độ trung bình khoảng 107 tính từ/truyện.
Về mặt cú pháp, khảo sát chỉ ra tính từ trong truyện ngắn Thạch Lam xuất hiện đầy đủ ở các vị trí ngữ pháp:
- Làm định ngữ cho danh từ: Ví dụ trong Cuốn sách bỏ quên ("những mộng đẹp xây lên trong lúc say văn, tất cả đều theo gió lạnh tan dần") hay Cô hàng xén ("nhìn cái áo lương cũ, Tâm cũng đoán là cậu giáo nghèo").
- Làm bổ ngữ cho động từ: Ví dụ trong Cuốn sách bỏ quên ("chàng khe khẽ khép cuốn sách lại, và ngồi yên lặng") hay Đứa con đầu lòng ("Thì giờ lúc ấy sao hình như đi chậm thế!").
- Làm vị ngữ trong câu: Ví dụ trong Cô hàng xén ("Ngõ tối hơn, đất mấp mô vì trâu bước") hay Gió lạnh đầu mùa ("Mẹ Sơn yên lặng không nói gì").
- Làm bổ ngữ/thành phần biệt lập cho câu: Ví dụ trong Tình xưa ("Xấu hổ, tôi giằng lấy và vứt ra ngoài cửa sổ").
Về tần suất xuất hiện lặp lại, khóa luận ghi nhận một số tính từ mang tính phong cách học rõ nét:
- Từ "thong thả" xuất hiện lặp lại nhiều lần trong hàng loạt tác phẩm (Một đời người, Cuốn sách bỏ quên, Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc, Tình xưa) để diễn tả nhịp điệu sinh hoạt chậm rãi, ung dung và sự điềm tĩnh trong tâm thế nhân vật trước dòng đời.
- Cặp từ "lụp xụp", "chen chúc" xuất hiện liên tục trong Đói, Một cơn giận, Nhà mẹ Lê nhằm lột tả không gian sinh tồn chật hẹp, tồi tàn của người nghèo.
Về vai trò nghệ thuật, tác giả phân tích hai bình diện chính:
-
Tính từ góp phần miêu tả thiên nhiên, cảnh vật:
- Khắc họa không gian phố huyện, chợ huyện, xóm ngoại ô nghèo nàn, tù túng: Thạch Lam sử dụng dày đặc các tính từ chỉ kích thước và trạng thái như nhỏ, nho nhỏ, tồi tàn, xiêu vẹo, trơ vơ, vắng không, lụp xụp, hẹp, dài để thu hẹp không gian, làm nổi bật sự tiêu điều, xơ xác (Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ).
- Miêu tả không khí mùa đông và bóng tối: Hệ thống tính từ ẩm ướt, rét mướt, rét buốt, tối tăm, lạnh, giá lạnh, buồn rầu, âm thầm cùng cách định vị không gian qua từ mênh mông tạo nên bầu không khí u tịch, lạnh lẽo bao trùm lên kiếp người đơn độc (Tối ba mươi, Cuốn sách bỏ quên, Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén).
- Kiến tạo bức tranh thiên nhiên thanh khiết, giàu chất thơ: Trong các truyện như Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan, Thạch Lam sử dụng các tính từ gợi màu sắc và cảm giác như tươi non, trong, xanh ngắt, rực rỡ, nhẹ, mát, thoang thoảng, êm ả, vàng đỏ, rực rỡ, ánh hồng, tím lại, đen lại kết hợp cùng từ chỉ âm thanh (văng vẳng, vo ve, khe khẽ), làm cho câu văn xuôi uyển chuyển, giàu nhạc tính.
- Biểu đạt cảm quan quê hương qua khứu giác: Việc dùng tính từ riêng, quen thuộc khi miêu tả "mùi riêng của đất", "mùi quen thuộc của quê hương" trong Hai đứa trẻ và Cô hàng xén thể hiện sự gắn bó tha thiết với đời sống đồng quê.
- Miêu tả ánh sáng lay lắt: Các tính từ le lói, lập loè, yếu ớt, lờ mờ, thưa thớt, xa xa mãi thể hiện sự mong manh của ánh sáng và niềm hi vọng chập chờn của cư dân phố huyện (Hai đứa trẻ).
-
Tính từ góp phần miêu tả những con người nghèo khổ:
- Khắc họa thân phận bần cùng: Các tính từ nghèo hèn, nghèo khổ, thấp hèn, đói kém, khốn nạn, cùng quẫn gợi lên nỗi xót thương đối với tầng lớp đáy cùng xã hội (Nhà mẹ Lê, Một cơn giận, Đói, Người lính cũ).
- Miêu tả ngoại hình tiều tụy, tàn tạ: Nhân vật mẹ Lê hiện lên qua các tính từ thấp bé, răn reo, khô, chật vật, khó khăn; người dân ngụ cư hiện lên gầy gò, rách rưới.
- Làm nổi bật đức hy sinh và bi kịch của người phụ nữ: Ở truyện Cô hàng xén, Thạch Lam đặt hai tính từ chung ("lẽ chung") và riêng ("cuộc đời riêng") vào thế đối lập để tôn vinh trách nhiệm, sự tần tảo của cô Tâm. Hình ảnh cô gánh hàng nặng trên đôi vai nhỏ bé, bước mau trên con đường mấp mô, đất rắn, đối diện với tương lai tối tăm, dày đặc như tấm vải thô sơ đã khái quát trọn vẹn cuộc đời vất vả, bế tắc của người phụ nữ nông thôn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các kết quả định lượng chi tiết về sự phân bố của từ loại tính từ trong 17 truyện ngắn của Thạch Lam:
Bảng thống kê số lượng tính từ theo tác phẩm khảo sát
| STT | Tên tác phẩm | Số lượng tính từ |
|---|---|---|
| 1 | Nắng trong vườn | 344 |
| 2 | Tình xưa | 204 |
| 3 | Cô hàng xén | 178 |
| 4 | Hai đứa trẻ | 119 |
| 5 | Dưới bóng hoàng lan | 102 |
| 6 | Sợi tóc | 96 |
| 7 | Cuốn sách bỏ quên | 92 |
| 8 | Hai lần chết | 89 |
| 9 | Đứa con đầu lòng | 87 |
| 10 | Đói | 85 |
| 11 | Tối ba mươi | 73 |
| 12 | Gió lạnh đầu mùa | 68 |
| 13 | Nhà mẹ Lê | 66 |
| 14 | Một đời người | 65 |
| 15 | Một cơn giận | 59 |
| 16 | Người bạn cũ | 56 |
| 17 | Người lính cũ | 50 |
| Tổng | 17 tác phẩm | 1.833 |
Bảng phân loại 3 nhóm tính từ chính trong ngữ liệu khảo sát
| STT | Nhóm tính từ (Theo mô hình Nguyễn Hữu Quỳnh) | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Tính từ miêu tả | 856 | 46,7% |
| 2 | Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật | 749 | 40,9% |
| 3 | Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật | 228 | 12,4% |
| Tổng | Toàn bộ ngữ liệu | 1.833 | 100% |
Bảng phân loại chi tiết nhóm tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài
| STT | Tiểu loại tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Tính từ chỉ màu sắc | 87 | 38,2% |
| 2 | Tính từ chỉ hình thể | 74 | 32,5% |
| 3 | Tính từ chỉ kích thước | 55 | 24,1% |
| 4 | Tính từ chỉ dung lượng | 12 | 5,2% |
| Tổng | Nhóm đặc điểm bên ngoài | 228 | 100% |
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã chỉ ra:
- Tỷ trọng vượt trội của tính từ miêu tả và tính từ chỉ trạng thái nội tâm: Nhóm tính từ miêu tả chiếm tỷ lệ cao nhất (46,7%), theo sát là nhóm tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái (40,9%), trong khi tính từ chỉ hình thức bên ngoài chiếm tỷ lệ nhỏ nhất (12,4%). Điều này chứng minh bằng số liệu định lượng cho nhận định văn học sử: ngòi bút Thạch Lam có xu hướng hướng nội sâu sắc, tập trung diễn tả những rung cảm mong manh, biến thái tinh vi của tâm hồn và cảm giác hơn là miêu tả hình khối, ngoại diện vật lý đơn thuần.
- Giá trị phong cách học: Việc sử dụng chọn lọc các tính từ đa giác quan (thị giác, khứu giác, thính giác, xúc giác) cùng các từ láy mô phỏng đã mang lại cho văn xuôi Thạch Lam chất thơ đằm thắm, tạo dựng thành công không gian nghệ thuật phố huyện đặc thù và khắc họa sâu sắc giá trị nhân đạo đối với con người nghèo khổ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được hoàn thành trong khuôn khổ nghiên cứu tốt nghiệp đại học nên còn một số giới hạn:
- Hạn chế về phạm vi ngữ liệu: Đề tài mới khảo sát 17 truyện ngắn trong một tuyển tập xuất bản năm 2012, chưa bao quát toàn bộ di sản sáng tác của Thạch Lam ở các thể loại khác như tiểu thuyết (Ngày mới), tiểu luận phê bình (Theo giòng), bút ký (Hà Nội ba mươi sáu phố phường) hoặc các truyện ngắn ngoài tuyển tập.
- Phương pháp thu thập ngữ liệu lặp: Trong quá trình thực hiện, tác giả chủ yếu thống kê các tính từ mới xuất hiện và hạn chế tính lặp đối với các tính từ đã xuất hiện trước đó, dẫn đến việc phân tích tần suất tuyệt đối của một số từ đơn lẻ chưa phản ánh toàn diện mật độ xuất hiện trên tổng số âm tiết của văn bản.
Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:
- Mở rộng phạm vi khảo sát từ loại tính từ ra toàn bộ văn bản nghệ thuật và báo chí của Thạch Lam.
- Đặt tính từ của Thạch Lam trong thế so sánh đối chiếu với các nhà văn cùng thời trong Tự Lực văn đoàn (như Nhất Linh, Khái Hưng) hoặc các tác giả hiện thực xuất sắc cùng thời (như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan) để làm nổi bật phong cách cá nhân của từng tác giả.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Văn học: Cung cấp khung phương pháp luận rõ ràng trong việc kết hợp ngôn ngữ học (ngữ pháp, từ loại) với tiếp cận phong cách học văn học.
- Giáo viên Ngữ văn bậc phổ thông: Cung cấp nguồn số liệu và phân tích ngữ liệu chi tiết để giảng dạy các tác phẩm tiêu biểu của Thạch Lam trong chương trình trung học như Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa.
- Người nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt: Cung cấp bảng ngữ liệu thực tế về khả năng hành chức và giá trị thẩm mỹ của từ loại tính từ tiếng Việt trong văn xuôi nghệ thuật giai đoạn 1930 – 1945.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu truyện ngắn của Thạch Lam và thu thập được bao nhiêu lượt tính từ? Khóa luận đã khảo sát 17 truyện ngắn in trong cuốn Thạch Lam - Tuyển tập (Nxb Văn học, 2012) và thu thập được tổng cộng 1.833 lượt tính từ, trung bình mỗi truyện ngắn có khoảng 107 tính từ xuất hiện. Tác phẩm có số lượng tính từ nhiều nhất là Nắng trong vườn (344 từ), tiếp theo là Tình xưa (204 từ) và Cô hàng xén (178 từ).
2. Khung lý thuyết phân loại tính từ nào được tác giả lựa chọn làm nền tảng chính? Tác giả lựa chọn mô hình phân loại của PGS. Nguyễn Hữu Quỳnh trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt, chia tính từ thành 3 nhóm: (1) Tính từ miêu tả, (2) Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật, và (3) Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật (gồm 4 tiểu nhóm: màu sắc, hình thể, dung lượng, kích thước).
3. Tỷ lệ phân bố giữa các nhóm tính từ trong truyện ngắn Thạch Lam cho thấy điều gì về phong cách của ông? Nhóm tính từ miêu tả chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,7% (856 từ), nhóm tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái chiếm 40,9% (749 từ), còn nhóm tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài chỉ chiếm 12,4% (228 từ). Sự chiếm ưu thế của hai nhóm đầu chứng minh ngòi bút Thạch Lam có xu hướng hướng nội, chuyên sâu phân tích cảm giác, tâm lý và tạo dựng không khí trữ tình hơn là miêu tả hình thể vật lý bên ngoài.
4. Những tính từ nào được Thạch Lam sử dụng lặp lại nhiều lần để tạo dấu ấn phong cách? Khóa luận chỉ ra Thạch Lam thường xuyên sử dụng tính từ "thong thả" trong các truyện Một đời người, Cuốn sách bỏ quên, Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc, Tình xưa để biểu đạt nhịp sống chậm rãi và tâm thế điềm tĩnh của nhân vật. Đồng thời, ông sử dụng liên tiếp các từ "lụp xụp", "chen chúc" trong Đói, Một cơn giận, Nhà mẹ Lê để khắc họa không gian sống nghèo nàn, chật chội của người lao động.
5. Tính từ đóng vai trò gì trong việc khắc họa hình tượng nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Thạch Lam? Tính từ giúp lột tả chân thực ngoại hình tiều tụy vì lam lũ (mẹ Lê: thấp bé, răn reo, khô, chật vật), đồng thời làm nổi bật phẩm chất chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh thông qua thế đối lập giữa nghĩa vụ "chung" và cuộc đời "riêng", đối lập giữa đôi vai "nhỏ bé" và gánh hàng "nặng", bước chân "mau" trên con đường "mấp mô, đất rắn" và tương lai "tối tăm" (cô Tâm trong Cô hàng xén).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Tính từ trong một số truyện ngắn của Thạch Lam" của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hằng là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, kết hợp chặt chẽ giữa thống kê định lượng ngôn ngữ học và phân tích thi pháp học nghệ thuật. Thông qua việc phân loại 1.833 tính từ trong 17 tác phẩm theo khung lý thuyết của Nguyễn Hữu Quỳnh, đề tài đã chứng minh một cách khoa học vai trò quyết định của tính từ trong việc định hình phong cách văn xuôi trữ tình, giàu chất thơ và đậm đà tinh thần nhân đạo của Thạch Lam. Kết quả nghiên cứu của khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho hoạt động học tập, giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ văn chương giai đoạn văn học Việt Nam 1930 – 1945.