Luận văn tốt nghiệp PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về phong cách nghệ thuật Trong chương này, căn cứ vào đối tượng và mục tiêu của luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng những cơ sở lý luận về phong cách nghệ thuật, lý luận về hội thoại, lý luận về tính mạch lạc của văn bản. Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với những biến thể sử dụng ngôn ngữ qua các chuỗi câu hay văn bản có chức năng thông báo - thẩm mỹ, tức là vừa thông tin một nội dung nào đó vừa thoả mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của con người bằng chính ngôn ngữ của mình. Theo tác giả Hữu Đạt "Phong cách nghệ thuật là một phong cách chức năng được dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con người" [9] Theo ông ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc điểm sau: 1.
Chức năng ngôn ngữ Các đơn vị ngôn ngữ hoạt động với chức năng nổi bật nhất là chức năng tác động bằng hình tượng. Để thực hiện chức năng này, ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật tác động theo các hướng sau: a. Tác động theo hướng giải trí: Ngôn ngữ là phương tiện dẫn dắt các tình tiết sự kiện và là điểm nút làm bật ra tiếng cười ở độc giả và khán thính giả. Đó chính là "thể loại hài" tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: - Thơ trào phúng, thơ châm biếm, đả kích, thơ vui.
- Truyện cười, tiếu lâm, truyện vui. Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ 9 z Luận văn tốt nghiệp - Hài kịch - Phim hài b. Tác động theo hướng nhận thức, giáo dục: Thông qua các hình thức ngôn ngữ nghệ thuật người ta ngày càng nhận thức được cuộc sống một cách đầy đủ hơn, ngày càng khám phá ra được các hiện tượng xã hội và thiên nhiên một cách sâu sắc hơn. Từ đó giáo dục con người hướng đến "chân, thiện, mỹ" để hành động đúng đắn phù hợp với quy luật thực tiễn.
Tác động theo hướng thẩm mỹ: Ngôn ngữ nghệ thuật làm thức dậy ở người đọc sự hoà đồng trên cơ sở những tiềm năng có sẵn hướng về cái đẹp ở cả hai mặt: + Mặt nội dung: (cung bậc tình cảm, tâm hồn). + Mặt hình thức: (lợi thế của ngôn ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng nghệ thuật như: hình ảnh, nhạc điệu, tiết tấu. Đặc điểm về tính hình tƣợng: Đặc điểm về tính hình tượng là tiêu chuẩn hàng đầu của ngôn ngữ nghệ thuật. Vì có đặc điểm này mà phong cách nghệ thuật khác biệt với các phong cách chức năng còn lại.
Các đơn vị ngôn ngữ tham gia với tư cách là các tham tố tạo nên hình tượng nghệ thuật, từ đó đã làm mờ nhạt đi tính bản thể của tín hiệu ngôn ngữ để tạo nên một loại nghĩa mới ngoài bản thể ("siêu tín hiệu"). Do đó, việc hiểu nghĩa văn bản phải bằng con đường lý giải quá trình biểu tượng hóa các tín hiệu qua các thao tác tư duy trừu tượng. Đặc điểm về tính thẩm mỹ Để khái quát hóa trong quá trình xây dựng hình tượng, nhà văn phải biết lựa chọn, gọt giũa các phương tiện từ ngữ khi đưa vào tác phẩm. Nhà văn làm Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ 10 z Luận văn tốt nghiệp cho ngôn ngữ của đời sống có màu sắc văn hóa thời đại và mang tính thẩm mỹ nghệ thuật.
Thông qua bút pháp miêu tả với những cách nói tượng trưng, so sánh đã làm nên tính thẩm mỹ của phong cách nghệ thuật. Đặc điểm về tính sinh động và biểu cảm Tính sinh động và biểu cảm của ngôn ngữ là một trong các thành tố quan trọng làm nên chất trữ tình ở văn bản nghệ thuật. Việc tạo ra các kiểu kết hợp từ, các kiểu kết cấu cú pháp mới lạ nhưng không đi chệch khỏi chuẩn mực, các từ tình thái, các loại câu than gọi, câu hỏi tu từ. vừa nối liền cảm xúc giữa tác giả và người đọc, vừa góp phần giúp cho văn bản nghệ thuật đa giọng điệu.
Đặc điểm về tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật Để điển hình hóa nghệ thuật, xây dựng các hình tượng vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể, nghệ sỹ phải dùng ngôn ngữ phù hợp để miêu tả những diễn biến tâm lý của đối tượng. Đây là lý do làm cho ngôn ngữ nghệ thuật có tính tổng hợp và đa dạng nhất. Cụ thể là: a) Sử dụng các phương tiện của tất cả các phong cách khác. b) Tính đa dạng trong hình thức thể hiện ngôn ngữ: - Ngôn ngữ tác giả (ngôn ngữ người kể chuyện) - Ngôn ngữ độc thoại nội tâm - Ngôn ngữ đối thoại (đặc biệt là kịch) - Sử dụng nhiều từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ, từ nghề nghiệp.
- Vận dụng tất cả các lợi thế về giá trị phong cách của các đơn vị từ ngữ trên các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp để phục vụ cho mục đích xây dựng hình tượng. Đặc điểm về sử dụng từ, ngữ - Sử dụng nhiều từ láy, từ tượng hình, tượng thanh. Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ 11 z Luận văn tốt nghiệp - Có hiện tượng tách từ nhằm cấp nghĩa cho vỏ âm thanh của từ. - Thường xuyên sử dụng các đơn vị thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ - Phong cách nghệ thuật hay dùng các câu mở rộng thành phần định ngữ, trạng ngữ và các kết cấu đảo.
Đặc điểm ngôn ngữ kịch dƣới ánh sáng của lý thuyết phong cách chức năng Trên cơ sở của thực tế hoạt động giao tiếp, tác giả Hữu Đạt đã phân loại các phong cách chức năng trong tiếng việt theo sơ đồ sau: [ 9, tr.77] Phong cách ngôn ngữ viết PC HC PC PC PC PC văn học nghệ thuật công khoa chính báo (sáng tác văn học, vụ học luận chí kịch bản văn học) (Các PC Tiếng chức việt năng PC diễn xuất sân PC khẩu ngữ Phong cách khấu, điện ảnh tự nhiên hội thảo Phong cách ngôn ngữ nói Nhìn vào sơ đồ trên chúng ta thấy tiếng việt bao gồm hai phong cách chức năng lớn: Phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết. Mỗi phong cách chức năng lại bao gồm trong nó các phong cách chức năng nhỏ hơn. Giữa các phong cách chức năng như sơ đồ trên có mối quan hệ biện chứng và có khả Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ 12 z Luận văn tốt nghiệp năng chuyển hóa lẫn nhau. Chẳng hạn một đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên, qua bàn tay của người nghệ sỹ có thể trở thành một đối thoại văn học có giá trị nghệ thuật cao.
Ngược lại, một đối thoại văn học ít được gọt giũa hay ít được sự gia công của nhà văn sẽ trở thành đối thoại của khẩu ngữ tự nhiên. Đối thoại là đặc trưng đầu tiên mà người ta thường quan tâm chú trọng của loại hình kịch. Văn bản kịch được viết ra chủ yếu để dàn dựng trên sân khấu, do đó nó có nhiều đặc điểm gắn liền với khẩu ngữ tự nhiên. Từ phong cách khẩu ngữ tự nhiên cho đến phong cách sáng tác kịch bản văn học là một quá trình chuyển hoá chức năng.
Tác giả Nguyễn Lai trong [ 22, tr.131] đã nhấn mạnh: Ở thể loại kịch, cũng xuất phát từ đặc trưng cơ bản là đối thoại. Cú pháp trong ngôn ngữ kịch là một thứ cú pháp tỉnh lược cao độ nhưng hoàn toàn rất dễ chấp nhận và dễ hiểu. Mỗi nhân vật ở đây vốn đã mang một thông tin riêng về ngôn ngữ trong quá trình diễn biến logíc của vở kịch. Câu nào nhân vật nói ra cũng nằm trong thế tỉnh lược ở bề mặt.
Nhưng người nghe tiếp nhận đầy đủ những cái cần có ở cấu trúc sâu. Với loại hình kịch ít khi xuất hiện người kể chuyện mà chỉ có đối thoại giữa các nhân vật với nhau. Vì được xây dựng trên các lời thoại nên ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ gần với khẩu ngữ nhất. Kịch nói lấy văn xuôi làm phương tiện chính để chuyển tải các sự kiện, xây dựng các xung đột.
Toàn vở kịch là một chuỗi các hành động và xung đột liên tiếp từ lúc "mở nút" đến "phát triển cao trào" và cuối cùng là "giải quyết các mâu thuẫn". Trong đó ngôn ngữ không những có vai trò quan trọng là trực tiếp tạo ra xung đột mà còn có tác dụng xâu chuỗi các sự kiện, hành động tạo nên một tác phẩm. Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ 13 z Luận văn tốt nghiệp Ngôn ngữ kịch nói ít có tính cách điệu như ngôn ngữ trong ca kịch mà giàu tính hành động và tính triết lý. Nó là thứ văn xuôi sử dụng nhiều động từ, nhiều câu mệnh lệnh thức và nhiều câu cảm thán.
Mặt khác nó cũng là thứ ngôn ngữ chứa đựng nhiều yếu tố khẩu ngữ hiện đại, có khả năng tiếp cận nhanh đến các sự kiện cập nhật của đời sống xã hội. Chính đặc điểm này làm cho kịch nói thường thành công ở đề tài hiện đại mà ít thành công ở đề tài lịch sử. Lý thuyết về hội thoại và hội thoại sân khấu Khi nghiên cứu về một tác phẩm kịch bản thì nhất thiết chúng ta cần đề cập đến hội thoại sân khấu. Đó là thứ ngôn ngữ hội thoại đã được sáng tạo qua bàn tay của một kịch tác gia.
Nhưng nó vẫn tuân theo những quy tắc chuẩn mực của hội thoại trong giao tiếp. Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ quan tâm đến một số khái niệm thường gặp khi phân tích hội thoại. Đó là những khái niệm then chốt, là "kim chỉ nam", là cơ sở để triển khai các chương tiếp theo. Khái niệm về hội thoại (conversation;collo-quial) ● Tác giả Đỗ Hữu Châu đã khẳng định : "Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác".
● Cũng theo tác giả Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, hội thoại là: “Hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra. Tuỳ theo các nhân tố giao tiếp hội thoại có nhiều kiểu khác nhau .