CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ VỀ PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ VÀ 'TRUYỆN BAC BA PHI 1.1 Phương ngữ.1 Khái niệm phương ngữ Phương ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến của hiện thực văn hóa và lịch sử. Trong giới hạn của một ngôn ngữ, phương ngữ phản ánh các đặc điểm tự nhiên và lịch sử của một địa bàn sinh tụ, một hệ thống ứng xử văn hóa cụ thể. Quy luật phát triển lịch sử không đồng đều dẫn tới sự xuất hiện các phương ngữ và những đặc điểm trong quá trình phát sinh và phát triển. của chúng.
Phương ngữ. Nam Bộ cũng nằm trong hiện thực nổi trên. Trong lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ học, đã có rất nhiều tác giả đưa ra. khái niệm về phương ngữ theo nhiều cách hiểu và nhận định khác nhau, những nhận định này cũng chưa hoàn toàn thống nhất.
Sau đây chúng tôi xin điểm qua một vài khái niệm cơ bản của các nhà nghiên cứu vẻ phương ngữ như sau: “Trong Từ điển bách khoa Việt Nam khẳng định: “Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ xã hội han hep là ngôn ngữ, là một hệ thống ký hiệu và nguyên tắc kết hợp có nguẫn gốc chung với hệ thông khác được coi là ngôn ngữ. Các phương ngữ khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng” [37.243] “Theo tác giả Trần Thị Ngọc Lang: "Phương ngữ là phương tiện diễn đạt và giao tiếp của một địa bàn (khu vực) dân cư" [14. “Tác giá Nguyễn Văn Ái thì cho rằng: "Có thể nói một cách nôm na phương ngữ là một chuỗi các nét biển dạng phương ngữ của một ngôn ngữ chung toàn dân” 9) Các tác giả trong cuốn Từ điển đối chiếu từ địa phương thi cho ring *Phương ngữ hay còn gọi là tiếng địa phương là hình thức ngôn ngữ được sử dung trong cộng đằng dân cư tại một vùng, miễn nhất định trân một lãnh thổ một nước” [35. Trịnh Sâm trong cuốn Đi tìm bản sắc tiếng Việt cho rằng: “Tiếng Việt bao giờ cũng tằn tại dưới dạng những giọng nói cụ thé.
Sự khác nhau trong giọng nói. tức về mặt ngữ âm, là cơ sở đầu tiên, sau đó đến từ vựng, để phân chia ranh giới 'Tác giả Hoàng Thị Châu thì cho rằng: “Phương ngữ là thuật ngữ ngôn ngữ. học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” 6.29 Nhu vay, thông qua việc tìm hiéu các khái niệm về phương ngữ của các nha nghiên cứu, ta nhận thấy rằng ở mỗi tác giả có cách hiễu, cách đánh giá riêng dựa trên một tiêu chí nào đó, Nhìn chung về mặt câu chữ dường như không có sự thống. Nhưng chúng ta có thể hiểu: Phương ngữ (hay phương ngôn) là hệ thống ngôn ngữ được dàng cho một tập hợp người nhất định trong xã hội.
thường là phân chia. theo lãnh thổ.2 Vấn đề phân vùng phương ngữ tiếng Việt Về phân vùng phương ngữ của tiếng có rất nhiều quan điểm khác nhau và cũng hết sức phức tạp. Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có vùng phương, ngữ nào cả mà chỉ có một ngôn ngữ tiếng Việt mà thôi. Nhưng cũng có quan điểm.
cho là hai, là ba, là bốn, hoặc thậm chí là năm vùng phương ngữ [4,85-88]. Cu th Trần Trí Dõi trong quyển Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, cho rằng: “Trong tất cả các tác giả hành phân vùng , di cũng căn cứ: trước hết về ngữ âm, sau đó là từ vựng và cộng thêm một vài khác biệt phụ trợ khác. Nhưng ở mỗi tiêu chí nói trên, nếu nhắn mạnh vào một tiêu chí nào, thì lập tức ranh giới nó sẽ khác nhau và tất nhiên kết quả phân ving sẽ khác hau” (8,214). Một số người lại theo khuynh hướng phân chia ba vùng phương ngữ: Bắc (Ninh Bình trở ra), Trung (từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế), Nam (từ Quảng Nam trở vào).
Đây là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu như: Phan Kế Bính, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Thị Châu, Nguyễn Bạt Tuy, Võ Xuân Trang.mà tiêu biểu là Hoàng Thị Châu [6), Ngoài hai khuynh hướng trên, một số người khác lại thống nhất theo khuynh hướng phân chia bốn vùng phương ngữ là: Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Trọng Báu, Huỳnh Công Tín. Cụ thể - Phương ngữ Bắc Bộ: bao gồm các tỉnh phía Bắc - Phương ngữ Bắc Trung Bộ: bao gồm các tỉnh từ Nghệ Tĩnh, Bình Tri “Thiên. - Phương ngữ Nam Trung Bộ: bao gồm các tỉnh từ Quảng Nam tới Phú Yên. ~ Phương ngữ Nam Bộ: bao gồm các tỉnh từ Nha Trang trở vào Minh Hải (Cà Mau ngày nay) Sở đĩ các tác giả này thống nhất chia bốn vùng phương ngữ vì họ đã nhận ra được sự khác biệt về mặt ngữ âm khá rõ nét giữa các vùng phương ngữ, đặc biệt là của vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ.
'Các ý kiến, quan điểm trên đều lấy trước hết ngữ âm làm tiêu chí chính để phân chia các vùng phương ngữ. Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp thì cũng chỉ dừng ở những vùng phương ngữ lớn mà thôi.2 Phương ngữ Nam bộ.1 Phương ngữ Nam bộ Phương ngữ Nam Bộ không những phản ánh cách phân cắt hiện thực của người Nam Bộ mà nó còn mang những nét văn hoá rất đặc trưng của vùng đắt mới. Nó thể hiện cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng của con người Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ còn là nơi chứa đựng các yếu tổ văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người và vùng đất Nam Bộ.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam bộ.
Khi đề cập tới phương ngữ Nam Bộ, các nhà ngữ học vẫn thừa nhận có sự khác biệt với phương ngữ Bắc Bộ, tiếng Việt chuẩn ở tắt cả các phương điện như. 10 ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, phương diện ngữ pháp và phong cách dign dat- phương. ciện íLcó sự khác biệt hoặc khó nhận diện hơn.1 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ trên bình diện ngữ âm. `Xết trên bình điện ngữ âm, phương ngữ Nam Bộ có sự khác nhau so với hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ tiếng Việt toàn dân.
Sự khác biệt này diễn ra trên các thành phẩn khác nhau của âm tiế: Phụ âm đầu, thanh điệu, phần vẫn, có thể nêu một số hiện tượng sai biệt đáng chú ý sau: “Trước hết là về thanh điệu, không những phương ngữ Nam Bộ chỉ có 5 dấu. (ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng), phương ngữ Bắc Bộ có 6 dấu (thêm dấu ngã), mà còn khác nhau về chất. Đặc biệt 3 dẫu: hỏi, ngã, nặng của phương ngữ Bắc Bộ được phát âm gần nặng, nghẹn và rung mạnh thanh đới, tạo nên màu sắc âm thanh khác với cách phát âm nhẹ lướt của phương ngữ Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ tân dụng 5 dấu làm phương tiện tạo ra từ mới hoặc lầy từ: ví dụ: tăn man, tin min, tan man, tin min, tin min, dé mang ý nghĩa riêng hoặc gần nghĩa.
Với phụ âm đầu ta có thể thấy sự phân biệt ở những âm tiết như: tr — ch, gỉ - +— d, nh — 1, s~ x. Những phụ âm này thường được phát âm rất khó phân biệt với nhau theo từng cặp như trường hợp của cặp “S” va “X” (sinh sản, số sáu, xấu xa., hay cặp tr — ch (trằn, trên, trong,. Đó là điều hợp lý, phản ánh đúng chữ viết của tiếng Việt và phù hợp với một vài phương ngữ khác. Ngoài ra âm đầu V ở.
phương ngữ. Nam Bộ, chỉ tồn tại trong chữ viết không tổn tại hoặc một phần nào đó. trong phát âm V-D-Gi đều phát âm thành D: Vì, dì, gì. 'Thành phẳn âm đệm trong phương ngữ Nam Bộ có điểm khác biệt, mặc dù về hình thức chữ viết, chính tả so với ngôn ngữ toàn dân thì không có gì khác biệt Một là âm điệu O và U như: Loan, luyền.
vốn là một âm lướt nhẹ lời do đó khi phát âm ở phương ngữ này, hoặc bị lược bỏ, hoặc bị mất âm. VD: loan — lon, luyến — tiến, lò loạt— lề lẹt, đường thiiy ~ đường thi, chung thúy ~ chưng thí. Hai là âm đôi i, wo, uo và các âm đơn ø, , ơ khi đứng trước M, P thì ở các âm đôi mắt yếu tổ sau, ví du: tiém-tim, tiép-tip, icom-lom, luộm thuộm- lộm hộm. Các âm đơn đều phát âm thành ôm, ốp.
Ví dụ: nom - nơm= nôm, họp - hợp = hộp. Hay con kénh — con kinh, né nép- né nip sắp xếp- sắp xíp.Ba là phát âm không phân những cặp m cudi: n mh, n-ng, tc, yi. Vi du: tan- tang, tác- tát, ay- ti,. Nhìn chung các hiện tượng khác biệt trong phát âm của người Nam Bộ có là do khuynh hướng lựa chọn dễ dãi, ưa chuộng hình thức đơn giản hóa trong cuộc sống giao tiếp sinh hoạt.
Họ thường không thích dai đồng, có sự lựa chọn, câu nệ trong lời nói, nghĩ sao nói vậy, rất phóng khoáng. Song ta nhận thấy rằng diện mạo ngữ âm ở. phương ngữ Nam Bộ mang tính thống nhất cao, ít có “hỗ âm”, qua phát âm không thể phân biệt được ở tỉnh nào hay vùng nào mà chỉ có cảm giác chung là tiếng nói hay giọng nói Nam Bộ mà thôi. Các phương ngữ khác không như vậy, có thể qua phát âm mà biết được người ở tỉnh nào hay vùng nào.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa Xét về phương diện từ vựng ta nhận thấy Nam Bộ có vốn từ vựng rất phong phú và đa dạng.
Từ vựng Nam Bộ cũng có một số khác biệt so với tiếng Việt toàn dân có thể tóm tắt ở một số đặc điểm cơ bản sau: Phuong ngữ Nam Bộ còn giữ lại một lớp từ cỗ của tiếng Việt mà phương ngữ Bắc Bộ (tiếng Việt chuẩn) không còn sử dụng. Chẳng hạn như những từ: bẻ (vỡ), bợ (đỡ), bông (hoa), heo (lon), ming (mừng), nhộ (dễ nhìn), coi (xem). Dùng một từ theo nghĩa cỗ (thường khái quát nghĩa hiện dùng tại Bắc Bộ): Nón. Phương ngữ Nam Bộ bên cạnh những từ thuẳn Việt thì quá tình ti xúc khá lâu giữa các dân tộc sống chung như Khmer, Hoa nên phương ngữ Nam Bộ có rất nhiều từ vay mượn như: cà rá, ca rang, xa ring, thốt nốt, bò hóc, ché, hia, tia, số đách, xập xám, miệt, mai.
và cả những từ vay mượn từ tiếng Pháp: xà lách, xà bông, cà vat, lave, Có một lớp từ vựng Nam Bộ có hiện tượng biến âm so với lớp từ vựng chuẩn.