Chương 1: Cơ sở lý thuyết và những vấn đề liên quan Chương 2: Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” trong truyện ngắn của Nam Cao Chương 3: Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thang độ” trong truyện ngắn Nam Cao 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Khái quát lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống Theo quan điểm của NNHCNHT, ngôn ngữ như là một hệ thống ký hiệu xã hội và được tổ chức theo các tầng bậc, theo các quan hệ hiện thực hóa và cụ thể hóa. Các tầng bậc tạo ra một nguồn lực nghĩa, một tập hợp các khả năng lựa chọn. Đối với Halliday, ngữ pháp được xem là hệ thống, chứ không phải là các quy tắc và ngôn ngữ là một tiềm lực về nghĩa.
Theo Halliday [41], tổ chức chức năng của ngôn ngữ quyết định hình thức cũng như quy tắc ngữ pháp và ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp phải thực hiện ba chức năng. Ba chức năng này không phải tự thân mà là để phục vụ chức năng giao tiếp – nhiệm vụ chính của ngôn ngữ, cụ thể: + Chức năng kinh nghiệm: Chức năng này trả lời các câu hỏi: Ai? Làm gì? Ở đâu? Là sự thể hiện kinh nghiệm của con người về thế giới xung quanh, trong bản thân người phát ngôn và thể hiện nội dung giao tiếp. Phân tích câu nói từ góc độ chức năng kinh nghiệm sẽ liên quan đến việc lựa chọn các kiểu quá trình, các kiểu tham thể và các kiểu chu cảnh. Theo cấu trúc nghĩa biểu hiện, cú được phân chia thành: Quá trình + tham thể + chu cảnh.
Theo đó, cấu trúc nghĩa biểu hiện có 6 quá trình khác nhau: quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ, quá trình phát ngôn, quá trình tồn tại và quá trình hành vi. + Chức năng liên nhân: Đối với cấu trúc nghĩa liên nhân, cú được tổ chức như một sự kiện tương tác giữa hai phía, trong đó người nói/ người viết dùng ngôn ngữ để tác động vào người nghe/người đọc. Chức năng liên nhân của câu luân phiên thay đổi vai trò trong cách tác động qua lại. Trong hành động nói năng, người nghe tự thân tiếp nhận một vai phát ngôn riêng biệt và cũng bằng cách đó phân công cho người nghe vai trò bổ sung.
Theo đó, khi đặt câu hỏi, người nói/ người viết nhận vai trò là người cần thông tin, tìm thông tin và yêu cầu người nghe/ người đọc nhận vai là người cung cấp thông tin. Những chức năng này, đến lượt chúng, được làm cho phù hợp bởi bốn phản ứng được mong đợi là: chấp nhận một lời đề nghị, thực hiện một mệnh lệnh, thừa nhận một lời 8 tuyên bố hay trình bày và trả lời một câu hỏi. Như vậy, nghĩa liên nhân sẽ xác lập mối quan hệ giữa các vai giao tiếp, thể hiện cách ứng xử của các nhân vật và qua đó bộc lộ bản chất của họ. Sự thể hiện cá nhân của người nói/người viết được thực hiện thông qua cách dùng từ ngữ mang tính đánh giá.
Theo Lý thuyết khung đánh giá (Appraisal Framework) của Martin và Peter White (2005) [42] – một lý thuyết được phát triển gần đây dựa trên mô hình lý luận của NNHCNHT do Halliday [41] khởi xướng – thì từ ngữ thể hiện sự đánh giá của người nói/ người viết được xem xét ở các góc độ sau [dẫn theo 14, 19]: – Thái độ (Attiute): Người nói/ người viết trực tiếp bày tỏ thái độ tích cực hay tiêu cực đối với người khác, đối với nội dung phản ánh hoặc tác động để người khác có cùng thái độ với mình; – Thang độ (Graduation): Người nói/ người viết điều biến (tăng hay giảm) mức độ xác quyết, làm mờ hoặc làm rõ ranh giới các phạm trù ngữ nghĩa mà người nói muốn biểu đạt; – Giọng điệu (Engagement): Người nói/ người viết hướng mình vào đối thoại hay tranh luận với những gì người khác đã nói hay có thể nói trước đó. + Chức năng tạo văn bản: Nghĩa văn bản liên quan đến việc tổ chức các yếu tố trong văn bản. Nó được sử dụng để tổ chức nghĩa tư tưởng và nghĩa liên nhân và tạo ra sự mạch lạc trong toàn bộ văn bản. Lý thuyết ngôn ngữ đánh giá Lý thuyết Đánh giá cung cấp một bộ công cụ để khám phá NNĐG trong văn bản bằng cách phân tích nguồn tài nguyên mang chức năng liên nhân đồng thời cho thấy những tác động về mặt xã hội thể hiện xuyên suốt trong toàn văn bản.
Bộ công cụ Đánh giá được phát triển bởi Martin [42] và các cộng sự (Martin, 2000; Martin & Rose, 2007; Martin & White, 2005). NNĐG nằm ở vị trí tầng ngữ nghĩa diễn ngôn. Trong điều kiện lý thuyết này chưa được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, chúng tôi chỉ tổng hợp chủ yếu dựa trên quyển sách của Martin & White [42] công bố năm 2005, bản tiếng Anh làm tài liệu để tổng thuật cơ sở cho luận văn.1: Các tầng ngôn ngữ và các siêu chức năng của ngôn ngữ (Rose & Martin, 2005 [42]) Theo trường phái NNHCNHT, ngôn ngữ được coi là một hệ thống gồm 3 tầng bậc: tầng ngoài cùng, là tầng ngữ nghĩa diễn ngôn. Tầng này được hiện thực hoá bằng tầng ngữ pháp - từ vựng và tầng ngữ pháp - từ vựng được hiện thực hoá thông qua tầng ngữ âm/chữ viết.
NNĐG ở vị trí tầng ngữ nghĩa diễn ngôn. Nó được hiện thực hoá thông qua từ vựng và ngữ pháp mang nghĩa đánh giá ở tầng ngữ pháp - từ vựng. NNĐG liên quan đến chức năng liên nhân /nghĩa đánh giá. Cả ngữ pháp - từ vựng và ngữ nghĩa diễn ngôn góp phần tạo nên các tầng nghĩa cho văn bản.
Hệ thống NNĐG bao gồm: “Thái độ”, “Thang độ” và “Giọng điệu”. “Thái độ” là các giá trị mà theo đó các quan điểm tích cực/tiêu cực được hoạt hoá. “Thang độ” là các giá trị mà theo đó cường độ hoặc sức mạnh của các mệnh đề được nâng cao hoặc hạ thấp. “Giọng điệu” là các giá trị theo đó người nói/người viết khoác các giọng điệu khác nhau và giá trị thay thế được đặt trong các ngữ cảnh giao tiếp thực tế.
Sau đây, dựa vào các tài liệu đã công bố của Halliday [41], Nguyễn Thị Hương Lan [23], Nguyễn Văn Hiệp [14] và đối chiếu với bản tiếng Anh của Martin và Peter White (2005) [42], chúng tôi đi vào tổng thuật các tiêu chí đánh giá của Bộ công cụ đánh giái theo quan điểm NPCNHT bao gồm: 1. Hệ thống “Thái độ” Hệ thống “Thái độ” bao gồm ba bình diện là “Tác động” (affect), “Phán xét hành vi” (judgement) và “Đánh giá SVHT” (appreciation). “Thái độ” có thể là tích cực hoặc tiêu cực, và được thể hiện một cách hiển ngôn hoặc hàm ngôn cho nên cần phải dựa vào từng ngữ cảnh cụ thể mới xếp được thái độ nào đó vào nhóm tích cực hay tiêu cực. “Tác động” là nguồn lực ngôn ngữ sử dụng để bày tỏ tình cảm, cảm xúc đối với những hành động đang diễn ra hoặc những thực thể xung quanh.
“Phán xét hành vi” được sử dụng để thể hiện đánh giá về mặt đạo đức đối với những hành vi và tính cách của con người và “Đánh giá SVHT” được sử dụng để đánh giá chất lượng 10 về mặt thẩm mỹ hay những cảm nghĩ, tầm quan trọng đối với quá trình và hiện tượng tự nhiên.2: Phán xét hành vi và đánh giá sự vật hiện tượng- tác động thể chế hóa (Martin & White 2005: [42, 45]) Như được đề cập ở trên, “Tác động” có thể được coi như là hệ thống cơ bản của hệ thống thái độ. “Phán xét hành vi” và “Đánh giá SVHT” được coi là thể chế hóa của tác động. “Phán xét hành vi” có liên quan tới đạo đức, hành vi và tính cách của con người, thường dựa trên các quy tắc và các quy định, trong khi “Đánh giá SVHT” liên quan tới thẩm mỹ hoặc giá trị thường là thông qua một số tiêu chí và đánh giá. “Tác động” tích cực hoặc tiêu cực, chẳng hạn chúng ta cảm thấy “vui” (tích cực) hoặc “buồn” (tiêu cực).
“Tác động” được hiện thực hoá thông qua sự đột biến của hành vi (ví dụ “Đội trưởng khóc”) hoặc thông qua trạng thái cảm xúc, diễn biến quá trình tinh thần, (ví dụ “Đội trưởng cảm thấy buồn”). “Tác động” được hiện thực hóa thông qua nguyên nhân của một phản ứng nào đó (ví dụ “Con gái tôi ghét sữa”) hoặc tâm trạng ẩn chứa bên trong (ví dụ: “Cô ấy buồn bã”). “Tác động” được phân loại dựa theo thang độ (thấp, trung bình, cao) (ví dụ không thích-ghét-ghét cay ghét đắng). “Tác động” được phân loại dựa theo dấu hiệu trạng thái cảm xúc tiềm ẩn (irrealis: tác động tiềm ẩn) và cảm xúc ngay trước những hành động đang diễn ra (realis: tác động trực tiếp).
Những ví dụ sau trích từ Martin & White (2005) [42] * Ví dụ tác động tiềm ẩn: 11 The captain feared leaving (Đội trưởng sợ rời đi). * Ví dụ tác động trực tiếp: The captain disliked leaving (Đội trưởng không thích rời đi). Tác động tiềm ẩn lại tiếp tục được phân loại ra là “mong muốn” (inclined) hoặc “không mong muốn, sợ” (disclined). Ví dụ: * Mong muốn: I was very nervous and wanted to put it off until another day, but I couldn‟t.
* Không mong muốn: I‟ve never liked snakes and was afraid it would bite me (Tôi không bao giờ thích rắn và e sợ nó cắn tôi). Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá đã phân chia tác động thành các nhóm sau: *Mong muốn/không mong muốn. *Hạnh phúc/không hạnh phúc: the captain felt sad / happy (thuyền trưởng cảm thấy buồn/vui) *An toàn/không an toàn: the captain felt anxious/confident (thuyền trưởng cảm thấy lo lắng/tự tin) *Thoả mãn/không thoả mãn: the captain felt fed up/absorbed (thuyền trưởng cảm thấy chán/thu hút) (Martin & White 2005) [42] Hạnh phúc/không hạnh phúc là cảm xúc chúng ta thể hiện đầu tiên liên quan đến tâm trạng cảm xúc hạnh phúc/buồn bã; an toàn/không an toàn, là “vấn đề an sinh xã hội”, liên quan đến cảm xúc bình yên và lo lắng với những gì xung quanh; hài lòng/không hài lòng là “vấn đề theo đuổi mục tiêu”, liên quan đến cảm xúc đạt được và thất bại với những hoạt động mà chúng ta tham gia. “Phán xét hành vi” Thái độ của chúng ta khi giao tiếp với người đọc/người nghe có thể bao gồm ý kiến về hành vi của con người (họ làm gì, họ nói gì và họ tin tưởng điều gì).
Chúng ta có thể khen ngợi, thán phục, chỉ trích hay phản đối hành động của họ. “Phán xét hành vi” được chia làm hai nhóm: * Thuộc tính cá nhân (Social Esteem): quan tâm đến việc ngợi khen hoặc chỉ trích những thuộc tính cá nhân.