mở đầu S. Phần thứ nhất: nói về những việc thuộc Dòng Tên (Đ.J) Phần thứ hai: nói về những việc thuộc về mình và bạn bè Phần thứ ba: về những chủ đề khác. 15 Trong từng phần, ông nêu rõ từng sự việc và ghi số trang về nội dung phần 1, ông ghi lại các diễn tiến, hoạt động của dòng Đ.T ở Việt Nam (Annam) và một số nước khác đồng thời cũng nêu lên những công trạng các vị thánh (bề trên), linh mục và thầy giảng của dòng, Nội dung phần 2, ông kể lại những việc làm của mình (khi thụ phong linh mục) cùng bạn bè ở trong nườc và khi lưu vong ở Bồ Đào Nha. Nội dung phần 3.
ông ghi lại các phép làm lễ, phong tục tập quán, sinh hoạt đời thường của người phương Tây, xã hội phương Tây và người Việt Nam, xã hội Việt Nam. Đồng thời ông cũng ghi lại các kinh nghiệm làm nghề in, đóng sách mà nước ta bấy giờ chưa thịnh hành. Điều đặc biệt và đáng quan tâm nhất của tập S.S là còn ở tình trạng viết tay và được công bố nguyên bản nên giúp chúng ta ngày nay tìm hiểu được nhiều vấn đề về ngôn ngữ như : ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Qua đó phần nào ta có thể biết được về hiện trạng tiếng Việt ở Đàng Ngoài thể hiện qua chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
16 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGỮ ÂM TRONG S. VẤN ĐỀ ÂM ĐẦU Trong S.S có 28 ký hiệu (đơn và kép) để ghi âm đầu và tổ hợp âm đầu tiếng Việt lúc bấy giờ. Đó là : b, bl, k, c, q, kh, ch, d, đ, g, gh, gi, l, m, mi, n, nh, ng, ngh, ph, r, s, tr, t, th, x, v. So với Từ điển Việt-Bồ-La của ALECXANDRE DE RHODES trong hệ thống âm đầu của PHILIPHÊ BỈNH không có tổ hợp ký hiệu tl và cả PHILIPHÊ BỈNH (nếu ta tính đến một ví dụ duy nhất được ALECXANDRE DE RHODES dẫn trong Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh in ở đầu cuốn từ điển đôi khi rất hiếm người ta còn thêm l vào p thí dụ : plan.
Bảng đối chiếu. Chữ viết ghi âm đầu ALECXANDRE DE PHILIPHÊ BỈNH RPHDES b b bl bl ϕ k k c c q q kh kh ch ch d d đ đ g g gh gh gi gi g(i) l l m m ml ml 17 n n ng ng ngh ngh nh nh r r s s tr tr th th t t x x tl v v 2. Tổ hợp phụ âm. Điều đáng lưu ý là trong cuốn Từ điển Việt-La của PIGNEAU DE BÉHAINE (1772 - 1773) (sau Từ điển Việt-Bồ-La của ALECXANDRE DE RHODES 121 - 122 năm và trước quyển S.S của PHILIPHÊ BỈNH 50 năm) và quyển Từ điển Việt-La của TABERD (1838) (sau S.S 16 năm) lại không có ký hiệu nào ghi các tổ hợp phụ âm.
Kể cả ml, bl có trong S. Tổ hợp ký hiệu tl có từ thời ALECXANDRE DE RHODES trong Từ điển Việt-Bồ-La, đến S.S của PHILIPHÊ BỈNH thì không còn và đều được thay bằng ký hiệu chữ viết tr trong hầu hết các trường hợp như : A.L BỈNH NGHĨA tlái trái phải trái, trái vụ tlải trải trống trải tlàng tràng bề dài tlàng tràng trường học tláng tráng trắng tlao trào trong (sạch) tlang hột tràng hạt tràng hạt tlánh tránh tránh (né) 18 tlao trao trao (giao) tlao trong bên trong, đàng trong tlòn tròn tròn tlăm trăm trăm tlần trần trần nhà tlâu trâu con trâu tlẩy trẩy trẩy đi tlẻ trẻ con trẻ lleo treo treo (lên) tlẻ tlung trẻ trung (thời) trẻ trung tlên trên trên tlò trò học trò tlôi trôi trôi (đi) tlộm trộm trộm (cắp) tlôn trôn đít (hậu môn) tlòu trông trông thấy tlốn trống trống trải tlưa trưa buổi trưa tlứng trứng trứng (quả) tlước trước trước Và một số không tìm thây sự tương ứng như : tlà bằng phẳng tlả trã, nồi kho cá tlai võ trai tlàm tằm tlám nhựa thông tlám trái trám tlám ống lọc rượu tlan con trăn tlang gỗ cùm bằng gỗ tlát trát (trét) nhà, tường tlắp tlầu tráp trầu 19 tlần thuyền không mui tlể (thuyền) tlể (một loại thuyền) tlểy trảy, hái (trái) tlỏm mất mắt sâu tlộn tlạo trộn trạo tlợt trợt, trượt (té) tlút bạc nấu chảy, lọc bạc trát ra tlưng trưng Qua thống kê chúng tôi tìm được ba trường hợp không theo quy tắc trên A.L BỈNH Nghĩa tlảm (con) ảm (con) ẳm con, bồng con tlọn blọn trọn lọn (vẹn) trọn vẹn tlúc tlắc lức lắc lức lắc Thí dụ: -. cho đến đứa còn ảm cũng vẩy tay dù chưa biết nói .396) ( (1) (kể từ đây tất cà thí dụ trích xin không sử đụng dấu (.) trước và sau câu trích.) - thì người vui mừng mà ảm lấy hình như được con chim lạc (tr.226) - Chúng tôi ước ao muốn làm việc thánh tông đồ chúng tôi cho blọn (tr.J ban cho người còn lọn ven xác mình (tr. - Đóng súc sách mà nhọn trôn như cái thuyền cho được lúc lác, cùng cứ giờ mà cho nó bú (tr.
Tóm lại: phụ âm đầu /tl/ của Từ điển Việt-Bồ-La hầu hết các trường hợp đều tương ứng với từ có chữ viết phụ âm đầu tr (trong S.S) ngoại lệ có 3 trường hợp lại tương ứng với từ có chữ viết phụ âm đầu là bl, l, và không có sự tương ứng (bỏ tl). Ký hiệu bl ghi tổ hợp phụ âm /bl/ ở A.DERHODES qua PHILIPHÊ BỈNH có các khả năng tương ứng. + giữ nguyên: bl → bl gi + Biến đổi: bl l Và có hai hướng tương ứng như sau : 20 + Tương ứng đơn : bl ở Từ điển Việt-Bồ-La tương ứng với một trong những âm /bl/, /gi/, /l/ của S.S + Tương ứng kép : bl, ALECXANDRE DE RHODES tương ứng với cả hai hình thức của S.S bl và gl, bl và 1. Thống kê trong Từ điển Việt-Bồ-La ta có tất cả 76 mục từ có phụ âm đầu là /bl/ nhưng đến S.S có được 16 trường hợp tương ứng, còn lại không tìm thấy sự tương ứng, Ta có thể thống kê các trường hợp tương ứtig đơn và kép như sau Tương ứng đơn: ALECXANDRE DE RHODES PHILIPHÊ BỈNH Bl bl Thí dụ: o Kẻo người ta phải chước dối blá nó ru (tr.309) o Vì thấy dân Judeo nhiều con trẻ blai (tr.396) o Thì được blả nợ người ta cho sạch (tr.316) o Là sự mặt blời, mặt blang cùng các ngôi sao (tr.316) o Mà blải chiếu hai bên lò để cho các đàn bà (tr.584) + bl tương ứng với gi: Thí dụ : o Giấy trắng thì giải trên phên (tr.584) o nhiều người điêu thật mà ăn năn giở lại cùng D.282) o mà khi cháy ở làng nọ cùng bén sang làng kia vì cái gianh hay lên cùng rơi xuống nóc nhà (tr.589) + bl tương ứng với l blốc blác → lúc lác Thí dụ: o như cái thuyền cho được lúc lác (tr.394) Tương ứng kép o bl (ở A.
Rhođes) -> bi và gi (Philiphê Bỉnh) Thí dụ : o Đã có kinh blái tim (tr.378) o đã ban cho mật giái núi gần thành Macao (tr.499) o thì blối rằng đem xác mình về (tr.442) 21 o có một thầy dòng đã làm tờ giối giăng (tr.420) o để cho nó blõù chè trong một vườn Dòng (tr.420) o lấy vườn Dòng D.J để mà giồng chè (tr.137) o đốt xương cha thằng Hẻo cùng tán ra blo (tr.471) o thì mới cháy ra gio hai xác ấy (tr.477) + bl tương ứng với bl và l Thí dụ : o tôi tá người hãy còn blọn vẹn (tr.311) o bạn cho người còn lọn vẹn xác mình (tr.311) So sánh với Từ điển Việt-La của Pigneau de Béhaine, tình hình ở tổ hợp phụ âm đầu /bl/ có khác. Nguyễn Thị Bạch Nhạn trong luận án "Sự biến đổi các hình thức chữ quốc ngữ từ 1620 - 1877" có thống kê, trong số 93 mục từ có bl của Tự điển Việt-Bồ-La (1651) đến Việt-La (1772) thì có 59 từ tương ứng với tr và 6 từ tường ứng với l, l trường hợp tương ứng khác và có 21 trường hợp còn lại không có tương ứng. Dựa trên cơ sở đó tác giả đã cho rằng phụ âm đầu /bl/ trong Từ điển Việt-Bồ-La chuyển đổi thành các phụ âm đơn trong Từ điển Việt-La theo sơ đồ sau : tr bl l Như vậy, qua hai cứ liệu quan trọng xuất hiện trong hai thời điểm khác nhau là Từ điển Việt-La của Pigneau de Béhaine và S.S của PHILIPHÊ BỈNH có hai hướng thay đổi, sự tương ứng hoàn toàn khác nhau, S.S có xu thế tương ứng với gi và trong Từ điển Việt- La (1772) lại thành tr. Sự tương ứng khác biệt này có lẽ do áp lực xã hội và mang tính lịch sử.
Bởi vì Từ điển Việt-La (1772) mang dáng dấp phương ngữ Đàng Trong và S.S (1822) mang dáng dấp phương ngữ Đàng Ngoài, cho nên ta có thể hiểu được rằng hai tổ hợp chữ viết bl và tl ở cuối thế kỷ XVIII đã có sự tương ứng với tr ở phương ngữ miền Trung và Nam, thành gi ở phương ngữ miền Bắc, Ngày nay trong tiếng Việt hiện đại vẫn song hành tồn tại. Trời và giời (<blời) trai và giai(<blai) trâng và giáng (<blăng) tro và gio (<blo) Cũng có trường hợp bl thời xưa nay chỉ có tr, chứ không có gi. Nhưng điều đó là do những nguyên nhân khác. Chẳng hạn blái tương ứng với trái ở phương ngữ Trung và Nam, 22 nhưng ở phương ngữ Bấc lại không có giái.S có ghi giái núi, giái đồi, giái giăng (các trang 5, 271, 499 và 583) chứng tỏ không phải không có lúc phương ngữ Bắc có tồn tại giái.
Từ này bị loại ra khỏi vốn từ là do đồng âm "không lịch sự" trừ những trường hợp cặn (residue) như trong dái tai, dái chân, già dái non hột (xem Hoàng Dũng 1995). Chữ viết ml ghi tổ hợp phụ âm /ml/ ở ALECXANDRE DE RHODES còn tồn tại hai trường hợp trong S.S, đó là : mlời - lời mlẻ - lẻ (lời) Thí dụ : o Kẻo vắng mặt thì vắng mlời (tr.7) o Song tôi Lại ở bên đông vì mlẻ khác (tr.14) + ml thay thành nh có 3 trường hợp : mlầm → nhầm mlặt → nhặt mlạt → nhạt Thí dụ : o vì khi trước đã nhầm mà phạm đến Dòng (tr.284) o Cùng thường xuống ấn nhặt ở sân nhà Dòng (tr.208) o có ý cho người ta nhạt lòng kính chuộng Dòng Đ.278) Đặc biệt khi khảo sát có một số trường hợp chúng tôi nghi ngờ là nh nhưng tác giả lại ghi là h : hài quạt (<mlài quạt?) o vua bà cầm hai tay hài quạt mà quạt vì là của chúng tôi mới tiến (tr.165) Điều đáng quan tâm khi khảo sát phụ âm này là trường hợp "lớn" được Từ điển Việt- Bồ-La nhất loạt ghi là mlớn nhưng ở S.