phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có phần nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2: Sự can thiệp của khẩu ngữ trong các tác phẩm đƣợc khảo sát Chƣơng 3: Vai trò của khẩu ngữ trong sáng tạo ngôn từ văn xuôi Cuối luận văn là danh sách các tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học có câu trích dẫn và phần phụ lục. 7 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. VĂN CHƢƠNG VÀ CHẤT LIỆU NGÔN TỪ Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhƣng cho đến nay trong hầu hết các tài liệu l í luận văn học ở Việt Nam đều chỉ hiểu ngôn từ nhƣ một phƣơng tiện biểu đạt, một công cụ bề ngoài, chƣa đi sâu tìm hiểu bản chất xã hội, thẩm mĩ của nó, và do đó cũng chƣa hiểu rõ bản chất của ngôn từ văn học. Sau hơn nửa thế kỉ tìm tòi đặc trƣng văn học từ phƣơng diện ngữ học, theo nhà lí luận văn học Mỹ J.Culler trong bài Về tính văn học (1989) cho biết: cả R.
Jakobson và Tz. Todorov đều thừa nhận rằng cái “tính văn học” mà họ chủ trƣơng dễ dàng tìm thấy trong các văn bản phi văn học! Con đƣờng đúng đắn để tìm hiểu ngôn từ văn học phải xuất phát từ sự thống nhất không tách rời giữa ngôn từ và ý thức. Marx và Engels hiểu ngôn từ (ngôn ngữ) nhƣ là biểu hiện của ý thức về thực tại trong giao tiếp: “Ngôn ngữ cũng xƣa nhƣ ý thức. Ngôn ngữ chính là ý thức thực tế, thực tiễn, tồn tại cả đối với những ngƣời khác, vậy lần đầu tiên cũng tồn tại đối với chính tôi”.
Ở đây ngôn từ và ý thức không tách rời, giống nhƣ âm thanh và ý nghĩa không tách rời trong kí hiệu ngôn ngữ. Đồng thời, ngôn ngữ với tƣ cách là ý thức về thực tại, thực tiễn, tồn tại trong giao tiếp xã hội, chứ không phải là trong từ điển. Trong tiểu luận Ngôn từ sinh hoạt và ngôn từ nghệ thuật, Bakhtin xem TPVC nhƣ là sản phẩm và sự kiện của sự tác động qua lại của ngƣời nói và ngƣời nghe, ngƣời sáng tác và ngƣời thƣởng thức, và chỉ trong quan hệ tác động qua lại đó văn học mới có đƣợc tính nghệ thuật. Tuy nhiên, vấn đề bản chất xã hội, thẩm mĩ của ngôn từ văn học phải đợi đến M.
Foucault nêu ra khái niệm discours (ngôn từ) thì mới hiện ra rõ 8 z rệt thêm một bƣớc. Theo ông, nhƣợc điểm lớn của F. de Saussure là qua sự đối lập ngôn ngữ (language) và lời nói (parole), ông đã bỏ qua thành phần thứ ba là ngôn từ (discours). Và do ảnh hƣởng to lớn của Saussure mà vấn đề ngôn từ bị để quên quá lâu.
Trong các công trình Từ ngữ và đồ vật, Khảo cổ học tri thức, M. Foucault đƣa ra khái niệm về ngôn từ nhƣ sau: “Ngôn từ (discours) do kí hiệu tạo thành, nhƣng điều nó làm đƣợc còn lớn hơn nhiều sự biểu đạt, cái nhiều hơn đó không thể qui về ngôn ngữ và lời nói.” Ý kiến của Foucault đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Tuy nhiên discours trong quan niệm của Foucault là một từ khó giải thích và khó dịch. Trong ngôn ngữ học discours chỉ một đoạn lời truyền đạt một thông tin, cho nên thƣờng dịch là “văn bản”, “ngôn bản” hay “diễn ngôn”.
Nhƣng khái niệm của M. Foucault có ý nghĩa đặc biệt, chỉ một hình thái, một kiểu lời nói do những yếu tố của đời sống xã hội, lịch sử qui định, có thể dịch thành “ngôn từ”, để phân biệt với ngôn ngữ, với lời nói và với diễn ngôn của các nhà ngữ học. Trƣớc đây, các nhà phê bình mới của Anh, Mỹ cũng đã dùng thuật ngữ ngôn từ với nghĩa là loại hình ngôn từ, để phân biệt ngôn từ thơ, ngôn từ văn xuôi… nhƣng Foucault nêu ra bình diện mới. Theo ông, đem văn học mà chỉ qui vào văn bản tất yếu sẽ tƣớc bỏ mất các điều kiện đã hình thành và tạo thành văn bản, kết quả là gạt bỏ các nhân tố tạo nên ý nghĩa của văn bản.
Ông phê phán chủ nghĩa cấu trúc đã cô lập văn bản để nhìn nó một cách tĩnh tại. Ông cho rằng sức mạnh kinh tế, chính trị, hình thái ý thức và cả chế độ văn hóa chi phối quá trình biểu đạt ý nghĩa của ngôn từ. Do đó, ngôn từ không phải là diễn ngôn trong ý nghĩa của ngôn ngữ học, mà là hoạt động thực tiễn chủ yếu của con ngƣời. Ngôn từ là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của một quần thể ngƣời trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định.
Nó 9 z không có tác giả riêng biệt, mà chỉ là một kiểu logic tiềm tại, đƣợc cất giấu trong ý thức của quần thể, ngầm chi phối ngôn ngữ, tƣ tƣởng, phƣơng thức hành vi của mọi ngƣời trong quần thể. Đó là cái cơ chế ràng buộc, qui định mọi ngƣời nói chung trong các điều kiện xã hội, lịch sử đƣợc nói gì và nên nói nhƣ thế nào. Foucault nói: “Anh tƣởng là anh đang nói, kì thực là lời nói đang nói về anh!”; “Một ngƣời không phải bất cứ lúc nào, ở đâu, muốn nói cái gì thì nói”. Nhƣ vậy, ngôn từ là hình thức biểu đạt của ngôn ngữ, chịu sự chi phối của một mô hình tƣ duy, một kiểu giải thích, một cơ chế ràng buộc nhất định.
Sự phân tích ngôn từ trong từng xã hội đã cho thấy cái logic nội tại, cái cơ chế thầm kín chi phối ngôn từ đó là hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con ngƣời và cơ chế quyền lực trong xã hội. Ở đây, ngôn từ với các yếu tố nội tại kể trên có tác dụng nhào nặn con ngƣời và cầm tù con ngƣời mà văn học, nghệ thuật có sứ mệnh giúp con ngƣời vƣợt thoát ra. Vận dụng vào văn học Việt Nam ta cũng thấy có sự phù hợp. Ví dụ, ở thời trung đại Việt Nam, chữ Hán với tƣ cách ngôn ngữ quan phƣơng và ngôn ngữ khoa cử đã có một sức mạnh và hấp dẫn gấp bội ngoài phạm vi một ngôn ngữ.
Việc phân biệt “nói chữ” và “nói nôm” buộc mọi ngƣời khi phát ngôn phải ý thức rõ về thân phận, địa vị, tri thức của mình. Những kẻ “hay chữ” mở miệng là trích dẫn thánh hiền, ngâm nga danh cú, “chi, hồ, giả, dã”, đã khiến cho ngƣời bình dân không có chữ ở vào địa vị mất tiếng nói. Lịch sử đã chứng kiến các cuộc đổi thay ngôn từ do các nhân tố ý thức hệ, trạng thái tri thức và hệ thống quyền lực thay đổi. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở Việt Nam đã diễn ra cuộc đảo lộn ngôn từ dữ dội.
Đó là lúc nhà thơ Tú Xƣơng đã than: “Nào có ra gì cái chữ Nho! Ông nghe ông cống vẫn nằm co!”. Công cuộc xây dựng nền văn xuôi mới gắn với tầng lớp trí thức 10 z Tây học, hệ thống tri thức mới tiếp nhận từ phƣơng Tây, áp lực thống trị của Pháp. Bây giờ nói tiếng Tây là sang, dẫn ngạn ngữ tây, điển tích Tây là lịch sự. Cuộc xung đột thơ cũ thơ mới thực chất là xung đột ngôn từ, có hạ bệ ngôn từ thơ cũ thì thơ mới mới rộng đƣờng phát triển.
Cuộc xung đột giữa Vũ Trọng Phụng và một số nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng có tính chất nhƣ vậy. Cuộc cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiếp theo cũng kéo theo cả một cuộc đảo lộn ngôn từ mới. Khẩu hiệu địa chúng hóa, học tập ca dao dân ca, học tập lời ăn tiếng nói của quần chúng công nông binh đã làm thay đổi ngôn từ nặng về sách vở của trí thức Tây học cũ. Những cuộc đấu tranh ý thức hệ đã hầu nhƣ chính trị hóa toàn bộ đời sống tinh thần xã hội.
Ngƣời có văn hóa thời này phải thƣờng xuyên sử dụng các thuật ngữ chính trị nhƣ tƣ sản, vô sản, giai cấp đấu tranh, chuyên chính, cách mạng, dân tộc, tập thể, dân chủ tập trung… Muốn cho lời nói có sức nặng thì trích dẫn văn kiện Đảng hay trƣớc tác của Marx, Engels, Lenin, Plekhnov, thậm chí cả Timôpheev v.v… Ý thức xã hội, trạng thái tri thức, hệ thống quyền lực đã làm cho ngôn từ trong đời sống hoàn toàn thay đổi, mặc dù ngữ pháp và vốn từ vựng cơ bản không đổi thay đáng kể. Vấn đề là vị trí, trật tự, sắc thái các lớp từ đổi thay, ý nghĩa xã hội lịch sử đổi thay. Ví dụ về nghĩa đen các từ trí thức, nông dân, công nhân trong từ điển không đổi, song về xã hội, từ nông dân, công nhân nghe sang hơn, tự tin hơn hai chữ trí thức. Trong các bản khai lí lịch, mấy từ tiểu tƣ sản, thƣơng nhân từng một thời gây một cảm giác tội lỗi, thua lép cho những ai mang chúng.
Có khái niệm ngôn từ đời sống nhƣ trên ta mới hiểu thực chất ngôn từ nghệ thuật (văn học). Khi một hệ thống ngôn từ đời sống lên ngôi thì nó trở thành một áp lực chi phối toàn bộ đời sống công cộng, chi phối ngôn từ cá nhân. Các hiện tƣợng kiêng húy, các phép tu từ đặc trƣng (nói tăng, nói 11 z giảm, nói tránh…) xuất hiện. Khi đó các ý nghĩ, tình cảm độc lập, thành thực của các cá thể ngƣời bị đè nén, ức chế, rơi vào tình trạng mất tiếng.
Nhà triết học mácxit phƣơng Tây là E.Fromm đề xuất khái niệm “vô thức xã hội” để chỉ tình trạng đó. Trong xã hội càng có nhiều điều bất hợp lí tồn tại thì sự đè nén kinh nghiệm thành thực của con ngƣời càng lớn. Nói chung, theo Fromm thì “ý thức đại diện cho con ngƣời xã hội”, “vô thức đại diện (…) cho con ngƣời nhân loại, tức con ngƣời toàn diện, con ngƣời đƣợc tự nhiên hóa, mà tự nhiên đó là tự nhiên đƣợc ngƣời hóa” [12]. “Vô thức xã hội” là một khái niệm mang nội dung tƣ tƣởng xã hội rất sâu sắc.
Sự tiến bộ và lành mạnh của đời sống đòi hỏi biến cái vô thức thành ý thức. Sứ mệnh của khoa học và nghệ thuật là đƣa trạng thái tƣ tƣởng của con ngƣời từ vô thức trở thành ý thức. Xét về mặt lịch sử thì nói chung, mọi ngƣời đều thừa nhận là nghệ thuật, thi ca có trƣớc ngôn ngữ. Nhƣng một khi hình thành, ngôn từ đời sống có tác dụng đè nén vô thức xã hội, làm cho ngôn từ nghệ thuật biểu hiện nó luôn luôn ở vào địa vị phân biệt, thậm chí đối lập với nó.
Tất nhiên nghệ thuật không chỉ biểu hiện vô thức xã hội, nhƣng đó là một phần sâu sắc nhất của đời sống con ngƣời xã hội.