mở đầu khi độc lập của nước nhà được khôi phục sau hơn một ngàn năm chịu ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Trong thời kỳ lịch sử này, đất nước ta bước đầu đã đạt những thành quả về xây dựng đất nước cũng như giữ nước hết sức to lớn, chính điều đó đã mang lại ý nghĩa lịch sử trọng đại cho nước nhà. Trong giai đoạn này, giai cấp phong kiến đã phát huy được đúng vai trò của mình là đoàn kết được các thể chế chính trị cũng như 10 các chính sách văn hóa, giáo dục… Dưới triều đại Lê Thánh Tông, đất nước ta đã trở thành một đất nước hùng mạnh ở nửa sau thế kỷ XV. Nhưng niềm vui không kéo dài quá lâu, chỉ trong khoảng bốn trăm năm sự nghiệp xây dựng đất nước luôn bị lung lay bởi các thế lực thù địch với hai lần chống Tống, ba lần chống Nguyên và giặc Minh xâm lược.
Chiến công lừng lẫy của Lê Lợi đã phá tan ách thống trị của giặc Minh từ đó khẳng định vững chắc nền độc lập của dân tộc. - Giai đoạn kế tiếp từ thể kỷ XVI, XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII Thời kỳ này nền kinh tế có những bước phát triển mới nhưng mâu thuẫn giai cấp phong kiến và nhân dân ngày càng gay gắt. Chính điều đó dẫn đến một số cuộc khởi nghĩa nông dân đầu thế kỷ XVI và nhiều cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến các thế kỷ XVI, XVII. Đau lòng nhất là hai cuộc nội chiến phi nghĩa giữa Mạc - Lê thế kỷ XVI, rồi Trịnh - Nguyễn thế kỷ XVII đã làm hao người, tốn của xã hội, nhân dân đã khổ ải nay lại bị rơi vào cảnh lầm than cơ cực đất nước ta chính thức rơi vào thời kỳ bị tạm thời chia cắt.
Về lịch sử văn hóa xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII nổi lên có ba hiện tượng lịch sử ảnh hưởng trực tiếp ít hoặc nhiều đến sự phát triển của văn hóa, văn học thời đại đó là: - Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng. - Khởi nghĩa nông dân bùng nổ một cách mạnh mẽ. - Cuối cùng là Nguyễn Huệ hai lần chống quân xâm lược và bè lũ tay sai đều thắng lợi vẻ vang thần tốc. Riêng về lĩnh vực kinh tế: Nền kinh tế nước nhà lúc này vô cùng yếu ớt, nông nghiệp bị đình trệ, bên cạnh đó công thương lại bị kìm hãm.
Cũng như thế, trong tình trạng phá sản tầng lớp nông dân rơi vào cảnh kiệt quệ, mất mùa dẫn đến đói kém triền miên, đó chính là tình cảnh xã hội thế kỷ XVIII. Thế nhưng, buồn thay bọn phong kiến quan lại không những không tìm ra chính sách biện pháp hữu hiệu tích cực mà còn ngày càng phản động, mục nát. Chính từ đó, các cuộc khởi nghĩa bắt đầu bùng lên từ mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến địa 11 chủ. - Giai đoạn thứ ba từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
Theo sử sách ghi lại thì đây được xem là thời kỳ sôi động, đầy sóng trào về mặt lịch sử. Chế độ phong kiến cũng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng vô cùng trầm trọng, ở nhiều nơi các phong trào nông dân khởi nghĩa rầm rộ từ giữa thế kỷ XVIII. Triều đình phong kiến không thể nào dập tắt. Phải kể đến đó là phong trào khởi nghĩa Tây Sơn do anh em Nguyễn Huệ lãnh đạo đã lật đổ các tập đoàn phong kiến thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê rồi sau đó đánh thắng ngoại xâm trong Nam ngoài Bắc.
Nhưng triều đại Tây Sơn thành lập được mười bốn năm thì bị Nguyễn Ánh lật đổ, từ đó triều Nguyễn được thiết lập với nhiều chính sách bảo thủ đưa đất nước ta rơi vào tay thực dân Pháp. - Giai đoạn nửa cuối thế kỷ thứ XIX. Tháng 9 năm 1858 thực dân Pháp đã chính thức đem quân xâm lược nước ta, đầu tiên giặc Pháp tiến vào Đà Nẵng rồi sau đó di chuyển vào Nam, đau đớn hơn là đã chiếm được ba tỉnh miền Đông. Không chỉ thế lần lượt ba tỉnh miền Tây cũng bị chiếm đóng, hành động nhanh gọn lẹ ấy của thực dân Pháp như sóng xô bờ, ồ ạt mạnh mẽ.
Thừa thắng xông lên, không dừng lại mà thực dân Pháp còn chiếm đánh cả Trung Bộ, Bắc Bộ và uy hiếp được phong trào Cần vương. Buồn thay, ngay thời điểm đó triều đình Huế lại bạc nhược chủ động cầu hòa để rồi đầu hàng. Nhân dân ta với tinh thần yêu nước đoàn kết một lòng từ Nam ra Bắc từ miền xuôi đến miền ngược đã gương cao ý chí tinh thần quyết tâm chiến đấu chống trả quyết liệt. Đất nước ta chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, các phong trào kháng chiến phát triển rầm rộ.
Có thể nhận thấy tình hình lịch sử của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ vô cùng nhiễu nhương đầy những biến động. Các cuộc chiến tranh nổ ra ở khắp các vùng miền đưa con người vào những cuộc chia ly khổ ải, từ đó chủ đề chia ly xuất hiện trên khắp các trang thơ. Chủ đề ly biệt trong thơ ca trung đại nhuốm đầy tâm trạng u sầu buồn thương, lưu luyến, bịn rịn. Các cảnh chia ly xảy ra trên 12 tất cả những mối quan hệ từ vợ chồng cho đến những tình thân bằng hữu, tất cả đều chất chứa niềm thương nỗi buồn của người với người dành cho nhau.
Sự hình thành và phát triển của văn học trung đại Văn học thời kỳ trung đại, là tập hợp những tác phẩm văn học kéo dài hàng ngàn năm từ thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ XIX. Từ thời Bắc thuộc do sự giao thoa văn hóa cũng như tác động của các thể chế phong kiến những tác phẩm chữ Hán của người Việt từ đó đã được hình thành. Hán học đã truyền bá vào nước ta và dần tạo được chỗ đứng, đây cũng chính là thời kỳ các tầng lớp nho sĩ Việt Nam được hình thành từ các lò Hán học. Những tác giả đầu tiên sử dụng chữ Hán để khai sinh ra những tác phẩm văn học viết cũng chính là tầng lớp này.
Văn học viết ra đời là một sự tất yếu và điều đó tạo nên ý nghĩa hết sức lớn lao cho nền văn học nước nhà. Sau khi hình thành, văn học trung đại đã có một quá trình lâu dài, trải qua hàng chục thế kỷ phát triển. Và trên tiến trình ấy, những chủ đề có tính chất thời đại, các cột mốc có tính chất tiêu biểu cùng với các tác giả tác phẩm, văn học có thể phân chia thành những chặng đường phát triển tương ứng với trình tự thời gian như sau: - Thứ nhất văn học thế kỷ X đến hết thế kỷ XV Trong giai đoạn này các tác giả văn học hầu hết là vua quan, các nhà sư và nhiều nhất là các nhà nho đỗ đạt. Từ thời Lý Trần đến thời Lê sơ các tác phẩm được viết bằng chữ Hán đều có sự bình ổn và cứng cáp nhất là cuối thế kỷ, bởi vào thời gian này văn học chữ Hán phát triển rực rỡ.
Minh chứng cho điều đó là các tác phẩm của các tác gia nổi tiếng như: Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Mãn Giác thiền sư, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Húc, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bảo, Thái Thuận và lớn nhất phải kể đến nhà văn đại thi hào Nguyễn Trãi. Không thể không kể đến những tác phẩm có giá trị vô giá đi cùng năm tháng là những tác 13 phẩm như: Nam quốc sơn hà, Quốc tộ, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Tụng giá hoàn kinh sư, Thuật hoài, Bạch Đằng giang phú, Cảm hoài, Phú núi Chí Linh, Bình Ngô đại cáo… Chữ Nôm cũng đã bắt đầu len lỏi, xuất hiện trong thời kỳ này. Đây được xem là một bước ngoặt vô cùng ý nghĩa với nền văn học của nước nhà. Theo đó vào khoảng cuối thế kỷ XIII văn học chữ Nôm chính thức ra đời với các tác gia lớn như: Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Trần Nhân Tông… nhưng những tác phẩm để lại có số lượng không nhiều hầu như chỉ còn những bài ca, phú, nổi bật nhất là những thành tựu văn học của Nguyễn Trãi.
Có thể nói rằng văn học thời kỳ này có chủ đề mang tính chất thời đại là: Khẳng định nền độc lập dân tộc của nước nhà. Bởi nền văn học ấy đã được khai sinh trong một giai đoạn đầy những biến động, chịu sự tác động vô cùng mạnh mẽ của quá trình xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm đầy đau thương gian khổ.Văn học thường phát triển rầm rộ xoay quanh các cuộc kháng chiến. Tác phẩm và ngôn từ văn học giai đoạn này vẫn còn vang vọng âm hưởng sử thi, hùng ca, biện thuyết như: hịch, cáo, thư, chiếu, phú… nhằm thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật cảm hứng yêu nước, anh hùng, ái ưu, nhân nghĩa của nhiều thế hệ tác gia. Lực lượng vẫn là các tăng lữ, quý tộc, quan chức và nho thần.
Trong vài thế kỷ đầu, tác giả hầu như là các nhà sư: Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh thiền sư, Mãn Giác thiền sư, Diệu Nhân ni sư…vv. Điều này là dễ hiểu bởi lúc này Phật giáo đang chiếm vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước ta. Một số tác giả ngoài nhà chùa lúc bấy giờ như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thường Kiệt… cũng sùng tín đạo Phật và để lại các tác phẩm chịu ảnh hưởng của Phật Giáo. Sang đời Trần ngoài lực lượng sáng tác thiền sư, cư sĩ còn có các quý tộc, vua quan, tướng lĩnh như: Trần Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão…giữa giai đoạn này thì có Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Phan Sư Mạnh… 14 Văn học thế kỷ X - XV đã Việt hóa được nhiều thể loại văn học cổ Trung Hoa nhưng dựa trên tinh thần phát triển ngôn ngữ văn học, đặc biệt là chữ Nôm.
Văn học thời kỳ này đã khoác lên mình tinh thần của dân tộc và chủ nghĩa anh hùng sáng ngời. - Thứ hai là văn học ở thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XVIII Sang đến giai đoạn này, có sự biến chuyển khá mạnh mẽ của đội ngũ sáng tác và quan trong nhất là nội dung sáng tác cũng đã có sự thay đổi về tính chất. Giai đoạn này, văn học đều được ghi nhận về sự phát triển cả chữ Hán và chữ Nôm.