Tổng quan nghiên cứu

Cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn tại địa điểm 18 Hoàng Diệu (diện tích tổng thể khoảng 48.000 m2, phát lộ hơn 19.000 m2 từ tháng 12/2002 đến tháng 3/2004) đã ghi nhận hệ thống địa tầng dày đặc từ 1m đến hơn 4m, phản ánh liên tục hơn 1.300 năm lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Do tác động khắc nghiệt của thiên nhiên và những biến cố lịch sử dữ dội, hầu hết các công trình kiến trúc cung điện nguy nga của hoàng thành đều đã bị phá hủy phần nổi, chỉ còn lại dấu vết nền móng và hàng triệu mảnh vỡ của bộ mái. Trong cấu trúc kiến trúc cổ truyền Việt Nam, ngói lợp và các cấu kiện trang trí gắn trên ngói là thành phần quan trọng hàng đầu phản ánh quy mô kiến trúc, kỹ thuật đúc nung, óc thẩm mỹ và vị thế chính trị - xã hội của từng triều đại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa, phân loại hình thái và giải mã nghệ thuật tạo hình trên ngói qua tư liệu khai quật tại cụm hố D4-D5-D6 (khu D) thuộc trung tâm Hoàng thành Thăng Long. Mục tiêu cụ thể nhằm xác lập khung niên đại chuẩn xác cho từng loại hình hiện vật, phân tích kỹ thuật chế tác xương gốm - tráng men, đồng thời đối sánh với các di chỉ khảo cổ học tiêu biểu trong nội đô lịch sử như Hậu Lâu, Đoan Môn, Bắc Môn, 11 Lê Hồng Phong và 62-64 Trần Phú. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc: cung cấp bằng chứng vật chất chuẩn xác phục vụ hồ sơ Di sản Thế giới, đồng thời đóng góp cơ sở dữ liệu nền tảng cho công tác trưng bày bảo tàng thực địa kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và định hướng phục dựng di sản kiến trúc hoàng cung thời Lý, Trần, Lê.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hình thái học khảo cổ học (Typology) kết hợp với phương pháp địa tầng học (Stratigraphy) trong khảo cổ học kiến trúc. Việc tiếp cận dựa trên quy luật diễn biến văn hóa vật chất qua từng tầng đất giúp xác định niên đại tương đối và tuyệt đối của từng loại hình hiện vật. Bên cạnh đó, khung lý thuyết biểu tượng học nghệ thuật và lịch sử mỹ thuật tôn giáo thời Trung đại được áp dụng để giải mã các đồ án điêu khắc hoàng gia.

Các khái niệm chính yếu được xác lập trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Ngói câu đầu (đầu ngói ống gắn diềm tròn hoặc bán viên có hoa văn hoa sen, hoa cúc nhằm bịt đầu mái và liên kết các hàng ngói âm).
  2. Yếm ngói (đầu ngói âm tạo dáng hoa văn hình như ý, đóng vai trò rủ giọt nước và chắn mưa gió).
  3. Lá đề trang trí (tấm bịt trang trí gắn trên lưng ngói bờ nóc, bờ dải mang biểu tượng Phật giáo với đồ án rồng, phượng).
  4. Linh thú bảo hộ kiến trúc (tượng tròn uyên ương, đầu rồng, đầu phượng gắn trên sống ngói bờ nóc nhằm gia tăng vẻ linh thiêng, uy nghiêm cho công trình hoàng gia).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập trực tiếp từ hàng nghìn mảnh di vật ngói lợp và bộ phận trang trí ngói tại cụm hố D4-D5-D6 thuộc khu D (địa điểm 18 Hoàng Diệu), phát lộ trên tổng diện tích hơn 2.000 m2. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ hiện vật chỉnh lý trong 4 lớp địa tầng văn hóa chính ở độ sâu từ 0,90m đến 4,20m. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn thể kết hợp chọn mẫu phân tầng theo từng đơn vị địa tầng khảo cổ học: lớp 4 (văn hóa Đại La, sâu 3,40m - 4,20m), lớp 3 (thời Lý - Trần, sâu 2,70m - 3,40m), lớp 2 (thời Lê, sâu 2,00m - 2,70m) và lớp 1 (thời Lê muộn - Nguyễn, sâu 0,90m - 2,00m).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hình thái học so sánh kết hợp đo vẽ kỹ thuật, dập hoa văn và chụp ảnh tỷ lệ là vì đây là quy chuẩn khoa học chuẩn xác nhất để tái hiện hình dáng nguyên gốc từ các mảnh vỡ, đồng thời tránh việc nhầm lẫn giữa các tầng văn hóa bị xáo trộn. Dữ liệu thực địa tại khu D được đối sánh trực tiếp với sưu tập 3.171 mảnh đất nung thời thuộc Pháp (1900-1917) và 212 hiện vật tại di chỉ 62-64 Trần Phú khai quật năm 2002. Timeline nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ giai đoạn khai quật hiện trường (01/08/2003 đến 30/02/2004) đến giai đoạn chỉnh lý, giám định mẫu và hoàn thiện báo cáo khoa học giai đoạn 2004-2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã phân lập và xác định hoàn chỉnh hai nhóm ngói lợp chính tại hố D4-D5-D6 gồm nhóm ngói cong (ngói ống, ngói âm dương, ngói bò nóc) và nhóm ngói phẳng (ngói mũi lá vát nhọn, ngói mũi sen đầu tròn mũi hớt cao 4-5cm, ngói mũi sen đầu vát). Kỹ thuật ghép nối đuôi ngói tạo nấc khớp nối cho thấy sự hoàn thiện vượt bậc về giải pháp thoát nước và kết cấu chịu lực trên mái dốc qua từng giai đoạn.

Thứ hai, dấu ấn kỹ thuật chế tác và chất liệu phản ánh bước nhảy vọt của thủ công nghiệp cung đình Đại Việt. Nếu ở lớp đất sâu nhất thời Đại La (sâu trên 3,40m), ngói chủ yếu có xương đất nung thô màu xám đen, đầu ngói in nổi hình mặt người hoặc hoa sen cánh thưa, thì sang thời Lý - Trần (độ sâu 2,70m - 3,40m), xuất hiện phổ biến ngói đất nung mịn màu đỏ tươi, ngói xương gốm trắng tinh xảo tráng men xanh lục và men vàng, cùng loại ngói pha cao lanh nung ở nhiệt độ rất cao. Đi kèm là các tượng uyên ương hoàn chỉnh với kích thước chuẩn mực (dài 14cm, cổ cao 15cm, rộng 7cm) gắn trên sống lưng ngói bò và ngói mũi sen.

Thứ ba, sự phân hóa đồ án điêu khắc trên lá đề thể hiện tính quy chuẩn hoàng gia nghiêm ngặt. Nghiên cứu ghi nhận hai dạng thức: lá đề cân xứng trang trí đôi chim phượng chầu (thường đặt ở bờ dải, diềm mái) và lá đề lệch trang trí rồng cuộn uốn lượn hình sin mồm ngậm ngọc (kích thước lớn cao tới 38cm, gắn chính giữa lưng ngói bờ nóc). Khi so sánh với 71 mảnh lá đề và 125 đầu ngói ống tại Hậu Lâu hay 18 đầu ngói hoa sen tại Bắc Môn, mức độ đồng nhất về phong cách tạo hình đạt trên 90%, khẳng định tính quy chuẩn của mỹ thuật trung tâm hoàng cung Thăng Long.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu hình thái học và chất liệu ngói tại cụm hố D4-D5-D6 có thể được trình bày rõ nét thông qua bảng ma trận phân loại địa tầng và biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ chuyển dịch chất liệu gốm men qua các thế kỷ. Biểu đồ thống kê chỉ ra rằng ngói tráng men cao cấp (men vàng, men xanh lục) chiếm tỷ lệ áp đảo ở giai đoạn Lý - Trần (khoảng 35% - 40% trong sưu tập ngói kiến trúc cung điện trọng điểm), sau đó giảm xuống dưới 15% ở giai đoạn thời Lê, nhường chỗ cho ngói đất nung xám đanh chắc không tráng men nhưng được nung già lửa và chạm khắc hoa văn hoa cúc dây kỷ hà đơn giản.

Nguyên nhân của sự chuyển dịch này gắn liền với bối cảnh hệ tư tưởng và chính trị: thời Lý - Trần là giai đoạn Phật giáo giữ vai trò quốc giáo, do đó các đề tài hoa sen, lá bồ đề, đôi phượng uyển chuyển và uyên ương biểu tượng cho cõi tịnh độ được tạo tác dày đặc với đường nét thanh thoát, tinh xảo. Sang thời Lê sơ và Lê Trung Hưng, sự thịnh trị của Nho giáo dẫn đến việc quy chuẩn hóa hoa văn rồng 5 móng quyền uy và đơn giản hóa các chi tiết trang trí bờ mái nhằm tăng cường tính thực dụng, bền vững. Kết quả nghiên cứu tại khu D đã khắc phục triệt để các hạn chế trong công trình của Henri Parmentier (1917) do thiếu tư liệu địa tầng học, đồng thời bổ sung bằng chứng vững chắc khẳng định Hoàng thành Thăng Long là trung tâm quyền lực chính trị và văn hóa liên tục suốt nghìn năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu hình thái và hiện trạng bảo tồn di vật ngói tại khu D, bốn nhóm giải pháp cấp thiết được đề xuất:

  1. Triển khai số hóa 3D toàn diện hiện vật trang trí mái: Tiến hành quét 3D laser và thiết lập ngân hàng dữ liệu số cho 100% mảnh ngói và linh thú trang trí tiêu biểu tại khu D, hoàn thành trong vòng 12 tháng do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội chủ trì, nhằm phục vụ công tác giám định và phục dựng mô hình mái ảo.
  2. Ứng dụng quy trình bảo quản hóa lý chuyên sâu: Áp dụng công nghệ khử muối, gia cố độ cứng xương gốm và chống rêu mốc cho các cấu kiện đất nung bị mủn mục ở tầng sâu 3,40m - 4,20m, hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ hư hại hiện vật xuống dưới 5% trong giai đoạn bảo tồn 2026-2028 do Viện Khảo cổ học phối hợp cùng các viện nghiên cứu vật liệu thực hiện.
  3. Thiết kế không gian trưng bày chuyên đề ngói hoàng cung: Phục dựng trực quan hệ thống bờ nóc, bờ dải và diềm mái theo tỷ lệ 1:1 ngay tại khuôn viên bảo tàng thực địa 18 Hoàng Diệu, đặt mục tiêu gia tăng 25% lượt khách tham quan học thuật trong vòng 24 tháng tới.
  4. Ban hành cẩm nang quy chuẩn phục dựng kiến trúc cổ truyền: Biên soạn và ban hành bộ hướng dẫn đối sánh hoa văn ngói Thăng Long qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê làm căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật cho các dự án tu bổ di tích trên toàn quốc trước năm 2030 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Chuyên gia khảo cổ học và nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc: Khai thác bộ tư liệu địa tầng chuẩn xác tại hố D4-D5-D6 để đối chiếu niên đại, phân loại các di chỉ kiến trúc cổ và phân tích diễn tiến kết cấu mái cung điện qua 13 thế kỷ.
  2. Kiến trúc sư và kỹ sư phục dựng di sản văn hóa: Vận dụng chính xác các thông số kích thước cấu kiện (như ngói mũi sen hớt cong 4-5cm, tượng uyên ương cao 15cm) và đồ án hoa văn rồng - phượng chuẩn mực để thiết kế tôn tạo đình, chùa, cung điện truyền thống.
  3. Cán bộ quản lý bảo tàng và di tích lịch sử: Ứng dụng khung phân loại hình thái và phương pháp bảo quản xương gốm tráng men vào công tác lập hồ sơ hiện vật, đồng thời xây dựng các maket trưng bày khảo cổ học tương tác đạt tiêu chuẩn quốc tế.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học Xã hội: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp tiếp cận tư liệu thực địa, kỹ thuật lập bảng thống kê khảo cổ học và phương pháp liên ngành giữa khảo cổ, mỹ thuật và lịch sử.

Câu hỏi thường gặp

Đặc trưng nổi bật nhất của trang trí trên ngói thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long là gì?
Trang trí ngói thời Lý nổi bật với kỹ thuật chạm khắc cực kỳ tinh xảo, trau chuốt và uyển chuyển, phản ánh đậm nét mỹ thuật Phật giáo. Hiện vật tiêu biểu tại khu D gồm ngói ống gắn đầu hoa sen nhiều lớp cánh, lá đề chạm rồng uốn khúc hình sin mồm ngậm ngọc và tượng uyên ương đất nung gắn trên ngói bò với xương gốm trắng tráng men xanh, men vàng cao cấp.

Ngói ống và ngói phẳng khai quật tại hố D4-D5-D6 khác nhau như thế nào về công năng?
Ngói ống (ngói cong hình bán trụ) được lợp úp xen kẽ với ngói âm để tạo thành các hàng máng xối dẫn nước mưa nhanh chóng và kiên cố trên mái lớn. Ngói phẳng (gồm ngói mũi lá và ngói mũi sen đầu cong hớt cao 4-5cm) được lợp trải đều trên bề mặt mái theo phương pháp cài chồng mí, tạo nên bề mặt mái nhẹ thanh thoát và ngăn chặn gió lốc làm lật mái cung điện.

Tại sao tượng uyên ương bằng đất nung lại được gắn phổ biến trên các bờ mái thời Lý - Trần?
Tượng uyên ương (dài khoảng 14cm, cao 15cm) là đồ án linh thú trang trí gắn trên ngói bò nóc và ngói mũi sen diềm mái mang ý nghĩa biểu tượng hòa bình, phồn vinh và hạnh phúc viên mãn trong văn hóa cung đình và Phật giáo thời Lý - Trần. Về mặt kỹ thuật, việc đắp nổi tượng uyên ương còn giúp tăng trọng lượng ghì giữ các hàng ngói diềm tránh bị gió bão cuốn lật.

Bốn lớp địa tầng tại hố D4-D5-D6 phản ánh các giai đoạn lịch sử nào?
Địa tầng từ 1m đến hơn 4m phản ánh 4 giai đoạn lịch sử liên tục: Lớp 4 (sâu 3,40m - 4,20m) thuộc thời Đại La (thế kỷ 7 - 9); Lớp 3 (sâu 2,70m - 3,40m) thuộc thời Lý - Trần (thế kỷ 11 - 14); Lớp 2 (sâu 2,00m - 2,70m) thuộc thời Lê (thế kỷ 15 - 18); Lớp 1 (sâu 0,90m - 2,00m) thuộc thời Lê muộn đến thời Nguyễn (thế kỷ 18 - 19).

Nghiên cứu ngói Thăng Long sau năm 1954 có bước tiến vượt bậc nào so với giai đoạn trước năm 1954?
Các phát hiện trước năm 1954 của học giả phương Tây chủ yếu mang tính thu lượm ngẫu nhiên tại bề mặt công trường Quần Ngựa, Kim Mã nên hoàn toàn thiếu vắng hồ sơ địa tầng học chuẩn xác. Nghiên cứu sau năm 1954, đặc biệt là cuộc khai quật quy mô hơn 19.000 m2 tại 18 Hoàng Diệu, đã tiếp cận hiện vật qua tầng tích khảo cổ khoa học, xác lập chuẩn xác niên đại, kỹ thuật chế tác và phân kỳ mỹ thuật ngói Thăng Long.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khoa học và chi tiết toàn bộ sưu tập ngói lợp, cấu kiện trang trí ngói tại cụm hố D4-D5-D6 (khu D) trên tổng diện tích khai quật hơn 2.000 m2.
  • Xác lập khung niên đại chuẩn xác qua 4 tầng văn hóa liên tục từ thời Đại La (thế kỷ 7) đến thời Nguyễn (thế kỷ 19) ở độ sâu từ 0,90m đến 4,20m.
  • Nhận diện toàn diện các loại hình trang trí độc đáo như ngói ống hoa sen, lá đề chạm rồng phượng hình sin và tượng tròn uyên ương gắn ngói bò nóc.
  • Làm sáng tỏ quy luật chuyển dịch kỹ thuật và mỹ thuật hoàng cung từ ảnh hưởng Phật giáo thời Lý - Trần sang quy chuẩn Nho giáo thời Lê.
  • Đóng góp nguồn tư liệu vật chất vô giá phục vụ nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, công tác bảo tồn di sản thế giới và tiến trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Dự án chỉnh lý tổng thể các khu A, B, C, D tại 18 Hoàng Diệu được định hướng mở rộng liên tục đến giai đoạn 2013-2028 nhằm hoàn thiện hồ sơ phục dựng kiến trúc hoàng cung. Hãy tiếp cận toàn văn luận văn ngay hôm nay để nắm bắt nguồn tư liệu khảo cổ học chuẩn mực và sâu sắc nhất về nghệ thuật trang trí kiến trúc Thăng Long!