Chương 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Trong nước Nguồn sử liệu quan trọng nhất và chủ yếu nhất được sử dụng trong luận án là các bộ sử do Nhà nước đứng ra tổ chức biên soạn dưới thời Lê -Trịnh và triều Nguyễn, cụ thể là: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên và các Sử thần triều Lê gồm ba bộ: Đại Việt sử ký toàn thư (Bản khắc Chính Hòa thứ 18 - 1697) (khắc in và công bố năm 1697 do nhóm Lê Hy biên soạn); Đại Việt sử ký, Bản kỷ tục biên (1676- 1740), tập 1; Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789); Lê triều chiếu lệnh thiện chính thư; Lê triều quan chế; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục phần Tiền biên; Đại Nam liệt truyện tiền biên; Đại Nam nhất thống chí. Đây là nguồn tư liệu chính yếu ghi chép trực tiếp chính sách và hoạt động giáo dục, khoa cử Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII gồm cả Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đại Việt sử ký toàn thư gồm ba bản: Đại Việt sử ký toàn thư (Bản khắc Chính Hòa thứ 18 - 1697) (khắc in và công bố năm 1697 do nhóm Lê Hy biên soạn) biên chép một cách hệ thống lịch sử dân tộc từ Hồng Bàng đến năm 1675. Bản Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ tục biên (1676- 1740), tập 1: do nhóm Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Phạm Nguyễn Du (1740 -1787), Ninh Tốn (1744-?), Nguyễn Sá ( -?) đồng biên tập dưới quyền Tổng tài của nhóm Nguyễn Hoãn (1712 -1791), Vũ Miên (1718 -1782) và Lê Quý Đôn (1726 -11784) chịu trách nhiệm biên soạn, ghi chép từ đời Lê Hy Tông (1676) đến Lê Ỷ Tông (1740) gồm 63 năm; Đại Việt sử ký tục biên (1676 -1789) do các sử gia triều Lê biên soạn [38] ghi chép sự kiện lịch sử từ đời Lê Hiển Tông (1740 - 1786) đến Lê Chiêu Thống (1786 -1788).
Đây là bộ chính sử quan trọng nhất, ghi chép trực tiếp các sự kiện về giáo dục, khoa cử thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài với các nội dung được nhắc đến nhiều nhất là thi Hương, thi Hội, thi Đình. Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn được biên soạn dưới thời Tự Đức, gồm 2 phần Tiền biên và Chính biên. Trong đó phần Chính biên (chép từ năm Đinh Tiên Hoàng thứ nhất (968) đến năm 1788 đời Lê Chiêu Thống) gồm 19 quyển (từ q.47) có ghi chép về thời kỳ Lê -Trịnh, một phần chúa Nguyễn Đàng Trong. Khâm định Việt sử thông giám cương mục được biên soạn theo lối biên niên, lại có phần “lời chua”, “lời cẩn án”, “lời các sử gia”, do vậy khi tham khảo bộ sách này, để khảo cứu các sự kiện giai đoạn vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, luận án thu thập được nhiều tư liệu, làm sáng tỏ nhiều nhân vật, địa danh, đồng thời tiếp cận được những lời nhận xét, phê phán của Quốc sử quán về một số sự việc liên quan đến thực trạng giáo dục, khoa cử thời Lê -Trịnh.
9 luan an Đại Nam thực lục gồm 560 quyển do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn là nguồn tư liệu chủ yếu khi tìm hiểu về thời kỳ lịch sử chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Trong đó phần Đại Nam thực lục tiền biên gồm 13 quyển, chép các sự việc của chúa Nguyễn, bắt đầu từ khi Nguyễn Hoàng vào Trấn thủ vùng Thuận Hóa đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần trị vì gần hai trăm năm (1558 -1777). Đây là nguồn tư liệu chính yếu để luận án khai thác các nội dung về tổ chức giáo dục, khoa cử thời chúa Nguyễn. Tuy không ghi chép cụ thể về giáo dục, khoa cử thời chúa Nguyễn, nhưng Đại Nam liệt truyện là bộ sử rất có giá trị khi tìm hiểu về hành trạng các nhân vật liên quan thời chúa Nguyễn.
Bộ sách do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn bắt đầu từ đời vua Thiệu Trị thứ 1 (1841), gồm ba phần, 85 quyển: Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập. Riêng Đại Nam liệt truyện tiền biên gồm 6 quyển là phần rất quan trọng trong việc làm rõ thân thế, công trạng của một số vị danh thần, quan viên trực tiếp tham gia bộ máy chính quyền chúa Nguyễn; hoặc hành trạng của một số Nho sĩ tuy lựa chọn lối sống “ẩn dật” nhưng vẫn nặng lòng với thời cuộc, có những đóng góp quan trọng về mặt tư tưởng đối với việc duy trì cơ nghiệp chúa Nguyễn trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII. Nghiên cứu cụ thể hơn về thân thế, hành trạng các vị đại khoa, luận án còn khai thác thông tin từ nguồn thư tịch về đăng khoa lục (sách ghi chép về tên tuổi và tiểu sử các vị trúng tuyển các khoa thi) như: Lịch đại danh hiền phổ (không rõ tác giả); Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều Đăng khoa lục của Nguyễn Hoàn, quyển nhì; Từ Liêm huyện đăng khoa chí của Bùi Xuân Nghi; Thu tỉ đề danh ký (Đăng Khoa lục Thanh Hóa) (không rõ tác giả); Phượng Dực đăng khoa lục của Đinh Danh Bá; Ngọc Than đăng khoa lục.Trong đó, Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục do Vũ Miên, Nguyễn Hoàn, Phan Trọng Phiên, Uông Sĩ Lăng biên soạn [113] ghi chép khá cụ thể tiểu sử, quê quán của các vị Tiến sĩ thời Lê -Trịnh, thi đỗ từ khoa thi năm 1694 đến khoa thi năm 1787. Mặc dù bộ sách không ghi chép gì về năm sinh, năm mất, chức vụ của họ khi tham gia phục vụ bộ máy chính quyền, nhưng đây vẫn là nguồn tư liệu rất quan trọng cho tác giả luận án trong việc thống kê, phân loại số người đỗ theo địa phương cụ thể, qua đó thấy được truyền thống khoa bảng của làng xã Việt Nam dưới thời Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài đã diễn ra như thế nào.
Luận án còn khai thác, sử dụng một số tác phẩm do các sử gia tư nhân biên soạn như: Ô châu cận lục của Dương Văn An (1514 -?); Việt Nam khai quốc chí truyện của Nguyễn Khoa Chiêm (1659 -1736); Thiên Nam liệt truyện Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh Thị, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 -1784); Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720 -1791); Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch (1758 -1827); Hải Dương phong vật chí của Trần Công Hiến (? -1817) và Đạm Trai Trần Huy Phác (1754 -1834); Nam Hà tiệp lục của Lê Đản (1742 -?); Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 -1825); Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao 10 luan an Lãng ( ? - ?); Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (1768 -1839); Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840); Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng (1828 -1910)1. Những tư liệu này giúp người nghiên cứu có hình dung rõ ràng về khoa cử Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII. Chẳng hạn quyển “Thể lệ thượng” trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn cung cấp những thông tin có giá trị về khoa cử bên cạnh một số vấn đề khác như lễ nghi, phong tục, quan chức, bổng lộc. của Đại Việt từ thời Lý đến Lê Trung hưng.
Trong phần “Khoa mục chí” của cuốn Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú dành hẳn quyển 27 để nói về thể lệ thi Hương, thi Hội, thi Đình của triều Lê -Trịnh khi trị vì ở Thăng Long. Luận án sử dụng một số văn bia, gia phả các dòng họ, hương ước của các địa phương như Hà Nội (gồm Hà Tây cũ), Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh. nhằm thống kê số người đỗ đạt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, đã có khá nhiều công trình biên soạn mang tính liệt kê về người đỗ khoa cử nói chung, người đỗ đạt của từng địa phương nói riêng được xuất bản là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cho luận án trong việc thống kê người đỗ Tiến sĩ, đỗ Hương cống thời Lê -Trịnh, qua đó thấy được truyền thống hiếu học ở làng xã Việt Nam trong hai thế kỷ XVII, XVIII.
Đó là: Tiến sĩ Nho học Hải Dương (1075 -1919) do Tăng Bá Hoành (cb), Bảo tàng Hải Dương, 1997; Các nhà khoa bảng Hưng Yên (1075-1919) do Dương Thị Cẩm biên soạn (Sở VHTT Hưng Yên, 1999); Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 -1919) của Ngô Đức Thọ (cb), Nxb Văn học 1993 (tái bản 2006); Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam của nhóm tác giả Bùi Hạnh Cẩn, Minh Nghĩa, Việt Anh biên soạn (Nxb VHTT, 2002); Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh (từ đời Trần đến đời Nguyễn) của Thái Kim Đỉnh (Hội Liên hiệp VHNT, Hà Tĩnh, 2004); Khoa bảng Nghệ An (1075 -1919) của Đào Tam Tỉnh (Nxb Nghệ An, 2005); Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội của Bùi Xuân Đính (Nxb Thanh Niên, 2010); Tiểu sử và hành trạng các nhà khoa bảng Hán học Nam Bộ của Nguyễn Đình Tư (Nxb Đồng Nai, 2013);. Riêng tác phẩm Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 -1919) của nhóm tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi biên soạn là công trình khảo cứu rất công phu về thân thế, sự nghiệp của 2.894 vị Tiến sĩ đã trúng tuyển trong các khoa thi Hội, thi Đình do triều đình tổ chức từ thời Lý đến triều Nguyễn. Công trình không chỉ có giá trị về mặt tra cứu, mà còn có giá trị rất lớn trong việc tìm hiểu tình hình và truyền thống đỗ đạt của các địa phương trong phạm vi cả nước. Năm 2019, nhóm tác giả do Nguyễn Thúy Nga chủ biên đã xuất bản bộ sách về khoa cử Việt Nam gồm 4 cuốn, khảo cứu những người đỗ kì thi Hương, thi Khảo hạch của nước ta từ thời Lê đến thời Nguyễn.
Trong đó hai cuốn: Khoa cử Việt Nam Hương cống triều Lê và Khoa cử Việt Nam Sinh đồ triều Lê thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn 1 Tác giả luận án còn sử dụng phần “Tổng luận” trong Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993. 11 luan an (Nxb Đại học QGHN) khảo cứu trực tiếp về thân thế, hành trạng các Hương cống và Sinh đồ của triều Lê ở Đàng Ngoài, Hương cống của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đây là công trình khảo cứu đầu tiên liệt kê khá đầy đủ về những người đỗ đạt trong kì thi Khảo hạch và thi Hương ở nhiều địa phương, vốn là những khoa thi được mở ở cấp địa phương, tư liệu ghi chép không đầy đủ. Để nguồn tài liệu này phục vụ tốt cho nội dung nghiên cứu của luận án, chúng tôi phải xác minh, chỉnh lý trước khi sử dụng.