CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ GIÁO DỤC TỈNH KIÊN GIANG TRƯỚC NĂM 1986 1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN- KINH TẾ CỦA TỈNH KIÊN GIANG Kiên Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam tổ quốc, là một trong 13 tỉnh thuộc ĐBSCL, có diện tích tự nhiên là 6245 km2, địa giới Kiên Giang về phía Đông giáp 2 tỉnh Cần Thơ và Hậu Giang, Đông Bắc giáp An Giang, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 54 km. Kiên Giang có những nét đặc thù về địa hình, là vùng đất có cả đồng bằng, rừng núi, biển đảo, phần đất liền đồng bằng có nhiều sông rạch, phần biển đảo có 105 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc là đảo lớn nhất nước ta và các quần đảo nổi tiếng như Thổ Chu, An Thới, Nam Du, Hải Tặc…tỉnh Kiên Giang có thành phố Rạch Giá trực thuộc tỉnh, một thị xã là Hà Tiên và 12 huyện (Kiên Lương, Hòn Đất, Tân hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, Kiên Hải, Phú Quốc). Về tự nhiên, Kiên Giang là tỉnh có tài nguyên phong phú và đa dạng về nông sản, hải sản, khoáng sản và du lịch, nằm ven vịnh Thái Lan nên lưu thông quốc tế bằng đường biển thuận lợi, có sân bay Rạch Giá, Phú Quốc. Dân số Kiên Giang có 1.028 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc Khơmer chiếm 12,8%, người Hoa chiếm 2,7% (năm 2006).
Do địa hình Kiên Giang có nhiều kênh rạch, núi rừng, biển đảo nên Kiên Giang được xác định có thế mạnh về nông lâm ngư nghiệp. Trong đó, nông nghiệp là thế mạnh kinh tế số một của Kiên Giang. Kiên Giang có diện tích rừng không nhỏ đó là rừng nguyên sinh Phú Quốc, rừng tràm U Minh Thượng, rừng sát ven biển, có một vùng biển rộng nằm trong vịnh Thái Lan, có điều kiện cho các loài thủy sản sinh sôi nảy nở, nhiều hòn đảo lớn nhỏ đã tạo nên một cảnh quan thiên nhiên sinh động, khá thuận lợi cho việc xây dựng các cảng biển trong hoạt động kinh tế. Không những có thế mạnh về nông lâm ngư nghiệp, Kiên Giang còn có tiềm năng về du lịch rất lớn, tiềm năng du lịch tập trung chủ yếu ở Hà Tiên, Kiên Lương: khu du lịch Mũi Nai, Thạch Động, Chùa Hang, Núi Đá Dựng, Bãi Dương… Đối với các huyện đảo du lịch tập trung chủ yếu ở Phú Quốc với những danh lam thắng cảnh như: Dinh Cậu, khu du lịch Bà Kèo và nhiều bãi 8 tắm đẹp như Bãi Trước, Bãi Sao, Bãi Khem, Bãi Giếng Ngự, Bãi Ghềnh Dầu.
Đặc biệt, Kiên Giang còn có những khu di tích lịch sử nổi tiếng, nơi đã từng là khu căn cứ cách mạng, nơi ghi lại dấu ấn sâu sắc hào hùng của dân tộc qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến, đó là nhà tù Phú Quốc và khu rừng quốc gia U Minh Thượng. Ngày nay, nơi đây trở thành khu du lịch thu hút rất nhiều du khách đến tham quan. Vì vậy, công tác giáo dục cần được phát triển để làm cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch của địa phương. Có thể nói rằng, Kiên Giang có tiềm năng kinh tế lớn, phong phú và đa dạng.
Đó là điều kiện thuận lợi cho việc quan hệ với các nước trên thế giới, nhất là các nước trong khối Asean. Với những điều kiện đó, chắc chắn trong tương lai Kiên Giang có một vị trí hết sức quan trọng, cần phát triển một cách nhanh chóng. Do đó, yêu cầu đặt ra phải nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sự hiểu biết, đưa kiến thức khoa học vào sản xuất và đời sống, tạo nguồn nhân lực đủ trình độ để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đây là yêu cầu vô cùng bức thiết.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TỈNH KIÊN GIANG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành tỉnh Kiên Giang Trong lịch sử khai khẩn mở mang bờ cõi của ông cha ta, ĐBSCL nói chung và Kiên Giang nói riêng được coi là vùng đất mới. Trước khi người dân đến khai phá vùng đất này thì đó là một vùng hoang hoá, đầm lầy, nước độc.
Tuy nhiên, ở nơi đây cũng chứa đựng tiềm năng sinh thái trù phú, điều kiện tự nhiên đa dạng: núi, rừng, sông suối, biển đảo… sau nhiều thế kỷ bị chiềm trong hoang hóa thì vùng đất này cũng được hồi sinh bởi những cống hiến, những hy sinh với bao sức lực, của cải xương máu của những lớp lưu dân (Khơmer, Kinh, Hoa) đến đây khai phá cho vùng đất này trở nên trù phú, màu mỡ. Giữa thế kỷ XVI một bộ phận người Việt ở Đàng Ngoài và Đàng Trong do tương tranh giữa hai thế lực Trịnh - Nguyễn, do sự hà khắc của chính quyền phong kiến, nên đã di cư vào vùng đất phía Nam khai phá, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tạo lập cho mình một cuộc sống tự do, no ấm. Năm 1680, Mạc Cửu là một di thần của nhà Minh ở Trung Hoa cùng một số quan binh không thần phục nhà Thanh đã đến vùng đất Mang Khảm còn có tên là Phương Thành trú ngụ.[46:511] Ông đã chiêu tập lưu dân khai phá vùng đất này. Năm 1708 (có nhiều tài liệu ghi khác nhau) Mạc Cửu dâng vùng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận và cho lập trấn thuộc 9 phủ Gia Định gọi là trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu chức tổng binh trấn Hà Tiên.
Trấn Hà Tiên được thành lập là một bước ngoặt quan trọng, đánh dấu mốc cuối cùng trong tiến trình mở mang bờ cõi của dân tộc Việt Nam, khẳng định công lao của ông cha ta đã đổ xuống nơi đây, để vùng đất vô chủ trở thành vùng đất có chủ. Năm 1867, Pháp thực hiện xâm chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, sau khi kết thúc cuộc bình định, Pháp tiến hành phân chia toàn bộ Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn: Sài Gòn, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Bác Xác. Tỉnh Hà Tiên được chia thành 3 địa hạt: Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu thuộc khu vực Bác Xác. Năm 1889 Pháp đổi các hạt thành tỉnh, Hà Tiên và Rạch Giá trở thành 2 tỉnh từ đó.
Địa giới 2 tỉnh này tồn tại đến năm 1951.[54:10] Vì thời gian này chính quyền kháng chiến xác nhập tỉnh Hà Tiên với tỉnh Long Châu Hậu để thành lập tỉnh Long Châu Hà, tỉnh Rạch Giá được xác nhập vào các tỉnh Bạc Liêu, Cần Thơ. Năm 1954 lập lại hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên. Năm 1956, ngụy quyền Sài Gòn nhập Hà Tiên vào Rạch Giá gọi là tỉnh Kiên Giang. Năm 1965, Hà Tiên nhập vào tỉnh An Giang.
Năm 1971 căn cứ vào tình hình và yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung ương cục Miền Nam quyết định thành lập tỉnh An Giang và Long Châu Hà, Hà Tiên thành huyện thuộc tỉnh Long Châu Hà. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 20/12/1975 bộ chính trị ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) ban hành quyết định 19/QĐ lập lại tỉnh Kiên Giang trên cơ sở tỉnh Rạch Giá cũ, huyện Hà Tiên lúc này trở lại với Kiên Giang [54]. Tỉnh Kiên Giang ngày nay gồm các huyện: Hà Tiên, Hòn Đất, Châu Thành, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Phú Quốc, Kiên Hải, thị xã Rạch Giá và thị xã Hà Tiên, huyện Kiên Hải gồm các đảo và quần đảo được thành lập vào năm 1984. Năm 2004, thị xã Rạch Giá được nâng cấp thành thành phố trực thuộc tỉnh Kiên Giang.
Suốt hơn 45 năm (1930-1975) đấu tranh chống xâm lược của hai đế quốc Pháp và Mỹ với tinh thần chiến đấu kiên cường anh dũng của Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang, truyền thống cách mạng của ngành giáo dục tỉnh được duy trì và phát triển tuy có phần hạn chế do chiến tranh. Sau ngày miền Nam hoàn toàn độc lập thì truyền thống ấy có điều kiện phát triển nhanh hơn, đưa nền giáo dục tỉnh bước sang một giai đoạn mới, một chặng đường mới.2 Sự phát triển cộng đồng dân cư Kiên Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam tổ quốc, quá trình hình thành và phát triển cộng đồng dân cư đồng hành với quá trình hình thành và phát triển 10 vùng đất Hà Tiên- Rạch Giá- Phú Quốc. Vào thế kỷ XVI cả vùng đất Rạch Giá, Hà Tiên của Kiên Giang còn là một vùng hoang vắng, chưa có hệ thống chính quyền quản lý. Đến đầu thế kỷ XVII, đã có một số người Việt và người Khơmer đến đây khai hoang với chế độ dân chủ, tự do, tự quản.
Nhưng lúc bấy giờ dân cư còn thưa thớt, sống tản mạng bên cạnh những con rạch nước ngọt, nơi có đất tốt dễ khai khẩn làm ăn. Năm 1623, chúa Nguyễn đã cho lập đồn thu thuế ở Sài Gòn, năm 1698 cho lập phủ Gia Định. Từ khi phủ Gia Định được thành lập, với chính sách khẩn hoang của chúa Nguyễn, cho phép dân ở xứ Đàng Trong (các tỉnh miền Trung) vào phía Nam định cư lập nghiệp thì cư dân ở đây đã đông đúc hơn. Mặt khác, những năm cuối thế kỷ XVII có những quan quân nhà Minh chống lại nhà Thanh ở Trung Quốc do Mạc Cửu dẫn đầu kéo đến đây để cư ngụ làm ăn, với hy vọng một ngày nào đó sẽ về Trung Quốc đánh bại nhà Thanh khôi phục lại nhà Minh.
Mạc Cửu đã tổ chức buôn bán, lập phố chợ, chiêu tập lưu dân người Việt, người Khmer đến đây ở. Khu vực này vì thế trở nên đông vui, sầm uất. Năm 1708, Mạc Cửu mang vùng đất Hà Tiên thần thuộc chúa Nguyễn và được phong làm tổng binh trấn giữ địa phương. Do thuyền buôn các nơi ra vào vùng này ngày càng tất nập đem lại món lợi rất lớn về buôn bán và thuế má, vì vậy vào khoảng năm 1757 Chúa Nguyễn cho lập đạo Kiên Giang ở Rạch Giá và Hà Tiên[56].
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, qua những cuộc biến động về chính trị, số lượng cư dân ở đây cũng biến đổi theo, thời gian này có nhiều đợt gia tăng dân số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Dân số ở đảo Phú Quốc phát triển mạnh do sự ưu đãi của Nguyễn Ánh, khoảng từ 1778-1786 dân số ở Phú Quốc tăng lên nhanh chóng[56:20] Đến đời vua Tự Đức (1847) dân số trong toàn trấn Hà Tiên là 5.793 người, dân số của cả tỉnh Kiên Giang khoảng 28. Tuy thời gian này số dân tăng không đáng kể nhưng đã hình thành cộng đồng dân cư Việt-Khơmer- Hoa khá rõ ràng. Năm 1868, dân số Kiên Giang đã lên đến 30.181 người, trong đó có 289 người Hoa[44].