Phần Mở đầu, Kết luận, Danh lục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, 6 tiết. Bối cảnh xã hội, vị trí và vai trò của Nho giáo thời Nguyễn 7 Chƣơng 2. Những tác động cơ bản của Nho giáo đến giáo dục đạo đức thời Nguyễn Chƣơng 3. Giá trị và hạn chế của giáo dục đạo đức Nho giáo thời Nguyễn 6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Từ trƣớc đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hƣởng của Nho giáo đến giáo dục đạo đức. Trong đó, tác giả đặc biệt quan tâm đến các tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, tƣ liệu lịch sử, thống kê tổng hợp, báo cáo khoa học theo hai lĩnh vực: Thứ nhất, nghiên cứu về Nho giáo và Nho giáo Việt Nam: Vấn đề lịch sử tƣ tƣởng và triết lý giáo dục. Thứ hai, nghiên cứu nền Nho học Việt Nam, những vấn đề giáo dục đạo đức, đào tạo và khoa cử. Luận văn tiếp thu có chọn lọc, kế thừa thành tựu nghiên cứu của tất cả những công trình khoa học trên, điển hình là những công trình sau: Giáo trình “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, tập 2, tác giả Lê Sỹ Thắng đã chỉ ra những ảnh hƣởng của Nho giáo trong lịch sử tƣ tƣởng, văn hoá, xã hội Việt Nam thế kỷ XIX, tác giả đã có những đóng góp cụ thể thiết thực và có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc cung cấp tƣ liệu cũng nhƣ cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử tƣ tƣởng giáo dục, trong đó có giáo dục đạo đức Việt Nam thế kỷ XIX.
Tuy vậy, đây chƣa phải là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về những ảnh hƣởng của Nho giáo đến lĩnh vực giáo dục đạo đức thời Nguyễn. Tác phẩm: “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858, sơ khảo” của Trần Văn Giàu (NXB Văn hóa, Hà nội, 1958) trình bày nhãn quan lịch sử về những nguyên nhân sâu xa của sự bất lực của nhà 8 Nguyễn, trong đó ảnh hƣởng của Nho giáo đến giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức là một trong những nguyên nhân cơ bản. Với chuyên khảo: “Việt Nam: Văn hóa và giáo dục” (NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2010), tác giả Trần Mạnh Thƣờng đã khái quát văn hóa của các dân tộc Việt Nam và nền giáo dục Việt Nam qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê… đến thời Nguyễn. Trong chuyên khảo này, Trần Mạnh Thƣờng cũng nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức Ngoài ra, còn rất nhiều học giả lớn nhƣ: Cao Xuân Huy, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thƣ, Quang Đạm, Trần Trọng Kim, Trịnh Doãn Chính…với rất nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo và ảnh hƣởng của Nho giáo đến giáo dục Việt Nam từng thời kỳ khác nhau trong xã hội Việt Nam.
Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu của các học giả về Nho giáo Việt Nam đã làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề về giáo dục các giá trị đạo đức Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam và nêu ra nhiều ý kiến mang tính gợi mở đối với vấn đề giáo dục dƣới tác động của Nho giáo. Các tác phẩm, công trình khoa học về Nho học Việt Nam, những vấn đề giáo dục, đào tạo và khoa cử, tác giả luận văn kế thừa chọ lọc tác phẩm “Nho học ở Việt Nam - Giáo dục và thi cử”. Trong đó, tác giả Nguyễn Thế Long đã trình bày một cách có hệ thống những giai đoạn phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, nội dung giáo dục Nho học ở Việt Nam. Chuyên khảo đã dành một phần nghiên cứu về giáo dục - khoa cử thời Nguyễn, và một số nhận định quan trọng về nền giáo dục khoa cử Nho học thời kỳ này nhƣ nội dung học, quan điểm học, các lối văn cử nghiệp, và vấn đề thi cử của Nho học.
Tác giả đã đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ về giáo dục khoa cử Nho học ở Việt Nam nói chung và thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX nói riêng. Chuyên khảo “Nho học và Nho học ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tài Thƣ đã vạch ra và phân tích những nội dung chủ yếu của Nho học, vai trò 9 của Nho học trong lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam. Chuyên khảo đề cập đến “Nho học thời Nguyễn - nội dung, tính chất, vai trò lịch sử” chủ yếu là vai trò của giáo dục đạo đức trong Nho học đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam thế kỷ XIX. Tác giả đã khái quát và đƣa ra một số nhận định về vai trò của Nho học thời Nguyễn làm rõ những ảnh hƣởng của Nho giáo đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội cụ thể là lĩnh vực giáo dục đạo đức thời kỳ này.
Trong tác phẩm “Nho giáo tại Việt Nam” do Lê Sỹ Thắng chủ biên, các tác giả đã giới thiệu các nội dung nghiên cứu trong cuộc hội thảo: “Nho giáo trong lịch sử và tàn dư của nó trong xã hội Việt Nam”. Đây là tác phẩm tổng hợp những tham luận nghiên cứu về lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam nói chung và Nho giáo Việt Nam nói riêng, trong đó có những bài viết đề cập đến ảnh hƣởng của Nho giáo đến từng lĩnh vực nhƣ văn hoá, tƣ tƣởng ở Việt Nam. Có thể nói đây là một công trình khá đồ sộ, nghiên cứu một cách có hệ thống về một giai đoạn phát triển của Nho giáo và ảnh hƣởng của Nho giáo đến xã hội phong kiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Trong tác phẩm “Sơ lược lịch sử giáo dục” của Đoàn Huy Oánh (NXB Đại học quốc gia Tp.
Hồ Chí Minh, 2004), tác giả đã trình bày tóm tắt lịch sử giáo dục từ trƣớc đến nay, trong đó có nhiều nền giáo dục nổi tiểng trên thế giới từ cổ đến kim, từ châu Âu đến châu Á, nền giáo dục của nhiều quốc gia thuộc nhiều khu vực. Tác giả dành một chƣơng có quy mô lớn nhất trình bày nền giáo dục Việt Nam từ trƣớc đến nay. Trong đó tác giả trình bày một cách sơ lƣợc về giáo dục thời Nguyễn, cụ thể là về tổ chức giáo dục, tổ chức khoa cử và nêu số nhà giáo dục tiêu biểu thời Nguyễn. Tuy nhiên, tác giả chƣa đi sâu vào nghiên cứu nền giáo dục Nho giáo thời Nguyễn cũng nhƣ chƣa chỉ ra những hạn chế và giá trị của nền giáo dục ấy.
Còn trong chuyên khảo “Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884” của Lê Thị Thanh Hòa (NXB Khoa học 10 xã hội, Hà Nội, 1998), tác giả đã khái quát việc đào tạo và sử dụng quan lại ở Việt Nam trƣớc thời Nguyễn và nền giáo dục thời Nguyễn. Qua đó, tác giả rút ra những bài học lịch sử nhằm phục vụ cho vấn đề đào tạo và sử dụng cán bộ trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay. Ngoài ra còn có các bài viết và các công trình khác có đề cập đến các vấn đề nhƣ “Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam” của GS. Vũ Ngọc Khánh (NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003).
“Lược sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” của Lê Văn Giạng (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), tác giả đã trình bày một cách khái quát về nền giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, đặc biệt là nền giáo dục phong kiến với những điểm mạnh và hạn chế của nó; hay công trình sử biên niên đồ sộ “Đại nam thực lục tiền biên” (bản dịch của Viện sử học), tập I (NXB Sử học, Hà Nội, 1962); tác phẩm “Khoa cử và giáo dục Việt Nam” của Nguyễn Quang Thắng (NXB Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh, 2005); “Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến” của Nguyễn Tiến Cƣờng (NXB Giáo dục, 1998); “Tiến sỹ Nho học Thăng Long - Hà nội (1075-1919)” của Bùi Xuân Đính (NXB Hà Nội, 2003). Nhƣ vậy, tổng quan tài liệu nghiên cứu cho thấy bức tranh tổng quát về mức độ và chiều sâu nghiên cứu của giới học thuật Việt Nam về các vấn đề giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức của Nho giáo ở Việt Nam suốt chiều dài lịch sử đất nƣớc cũng nhƣ ảnh hƣởng của Nho giáo đến triết lý giáo dục đạo đức của nhà Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng chịu ảnh hƣởng rõ nét nhất tƣ tƣởng Nho giáo. 11 CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI, VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NHO GIÁO THỜI NGUYỄN 1.
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - VĂN HÓA XÃ HỘI THỜI NGUYỄN 1. Điều kiện kinh tế thời Nguyễn Đến đầu thế kỷ XIX, Việt Nam đứng trƣớc cơ hội lịch sử nếu có đƣờng lối cải cách và phát triển đúng đắn về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Đây cũng là thời điểm bản lề của tiến trình đổi mới, phát triển các dân tộc Châu Á. So sánh với các vƣơng triều phong kiến đƣơng thời ở Nhật Bản, ngƣời ta thấy rõ điều đó.
Năm 1600, tƣơng tự nhà Nguyễn, Tokugawa Ieyasu đánh tan quân liên minh Daimyo trong trận đại chiến Sekigahara, chấm dứt nội chiến, thống nhất Nhật Bản và đƣa đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ Edo, giai đọan hòa bình suốt hơn 250 năm (1603-1867). Trong thời kỳ Edo, chính quyền phong kiến Nhật Bản đã phục hồi, chấn hƣng và xác định Khổng giáo là cơ sở tƣ tƣởng chính thống và là nền tảng tƣ tƣởng cho hệ thống xã hội trật tự, ổn định. Khổng giáo còn đƣợc coi là nền học vấn chính trong sách lƣợc trị nƣớc của chính quyền Edo. Trong chính sách văn trị để thu phục nhân tâm của Tokugawa, Nho học đƣợc xem là nền tảng và đƣợc chọn là Quan học, môn giáo dục chính yếu của nhà nƣớc.
Tuy nhiên đến thời kỳ Minh Trị (Meiji (1868-1912)), chế độ phong kiến Nhật Bản đã tiến hành cuộc cách mạng thể chế với nội dung duy tân mạnh mẽ nhƣng vẫn chứa đựng trong hình thức truyền thống biểu hiện rõ nét bằng khẩu hiệu “Vƣơng chính phục cổ”. Nghĩa là không phế bỏ địa vị của Thiên Hoàng mà còn khôi phục địa vị, quyền uy tối cao của Thiên Hoàng. Các cải cách kinh tế, giáo dục của Nhật Bản đã giúp họ tránh đƣợc sự xâm lƣợc của thực dân phƣơng Tây, đó chính là chủ nghĩa thực dân kiểu mới. 12 Trong khi đó, các vua nhà Nguyễn đã không thể cải cách, hay chí ít thay đổi gì căn bản về vấn đề này, mà còn càng ngày càng trở nên bảo thủ, cực đoan hơn nhƣ: “Thiên địa bất biến, đạo diệc bất biến” để rồi “Bế quan tỏa cảng”, “Trọng nông, ức công thƣơng”.